Freitag, 13. August 2010

“Siêu vi khuẩn” kháng mọi loại thuốc cũng có tại Việt Nam

“Tại Việt Nam chưa ghi nhận loại siêu khuẩn gen NDM-1 được phát hiện tại Anh nhưng khả năng loại này vào Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên nước ta hiện cũng đã ghi nhận một vài loại vi khuẩn tương tự có khả năng kháng tất cả loại kháng sinh”.


BS Nguyễn Trung Cấp, Phó trưởng khoa Điều trị tích cực, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cho biết, trước thông tin các nhà khoa học trên thế giới cảnh báo về một nhóm "siêu vi khuẩn" - có khả năng kháng nhiều loại thuốc kháng sinh, thậm chí là nhóm kháng sinh mạnh nhất - đã lây lan từ Ấn Độ, Pakistan sang Anh.

BS Cấp giải thích: “Vì đặc tính chung của vi khuẩn có thể lây truyền rất mạnh qua giao lưu. Trên thực tế, loại siêu vi khuẩn trên đầu tiên được phát hiện tại Ấn Độ, sau đó gia tăng nhanh tại Anh và nhiều nơi khác. Nguyên nhân là do sự giao lưu thế giới ngày càng rộng rãi, mọi người có thể mang vi khuẩn kháng thuốc này về nước mình rồi tiếp tục lây truyền”.

Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, rất khó để xác định được loại vi khuẩn kháng thuốc này đã có mặt ở nước ta hay chưa. Vì đến nay Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào giải mã trình tự gen của tất cả các vi khuẩn kháng thuốc.

Có làm nghiên cứu này thì mới xác định được chính xác loại vi khuẩn kháng thuốc có phải là NDM-1 hay không. Còn các loại vi khuẩn kháng thuốc mang gen tương tự NDM-1 như vi khuẩn mang gen IMP, VIM... cũng kháng thuốc họ carbapenem đã được phát hiện tại Việt Nam. Ngoài ra còn một vài loại vi khuẩn tương tự có khả năng kháng tất cả loại kháng sinh cũng đã được tìm thấy tại Việt Nam, phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn "gram âm đường ruột", bác sĩ Cấp nói.

BS Cấp cho biết thêm, tại BV Nhiệt đới trung ương, thỉnh thoảng cũng có những ca bệnh được xác định nhiễm loại vi khuẩn kháng thuốc nhóm carbapenem, chiếm tỷ lệ khoảng 1-4% chủng vi khuẩn gây bệnh đường ruột.

Vì thế, để phòng nguy cơ ngày càng xuất hiện nhiều siêu vi khuẩn kháng thuốc, kháng kể cả những kháng sinh mạnh, mới nhất thì việc kiểm soát sử dụng thuốc kháng sinh là rất quan trọng. Việc lạm dụng kháng sinh, sử dụng tùy tiện không theo đúng chỉ định của bác sĩ là một trong những nguyên nhân khiến cho tình trạng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng, xuất hiện ngày càng nhiều loại “siêu vi khuẩn” đa kháng thuốc. Khi vi khuẩn đã kháng thuốc, việc điều trị bệnh rất khó khăn, tốn kém do sẽ phải áp dụng nhiều biện pháp, phối hợp nhiều kháng sinh, điều chỉnh liều thuốc…

Hồng Hải

Sự trỗi dậy của một cường quốc quân sự

Vũ Quang Việt

Sự quan trọng của Biển Đông Nam Á đối với khu vực và thế giới

Không có gì có thể gây khó khăn cho sự phát triển một cách hòa bình của khu vực Đông Nam Á và toàn bộ lục địa châu Á hơn là sự can dự tích cực của quyền lực Trung Quốc tại biển Nam Trung Hoa. Vùng biển này có lẽ nên gọi là Biển Đông Nam Á (SEAS)[1] thì thích hợp hơn, vì nó là trung tâm của khu vực Đông Nam Á và các hoạt động hàng hải kết nối các nước trong khu vực Đông Nam Á, Bắc Á, ra biển Thái Bình Dương, các lục địa Ấn Độ, Trung Đông, Châu Phi và Châu Âu.

Phần lớn hoạt động thương mại toàn cầu (khoảng 90% khối lượng) qua vận chuyển bằng đường biển và đường biển trên biển ĐNA vô cùng quan trọng đối với các dòng chảy thương mại này. Eo biển Malacca giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì nó cung cấp các tuyến đường ngắn nhất giữa Ấn Độ Dương và biển ĐNA, và được sử dụng bởi hơn 70.000 tàu chở hàng năm, chuyên chở hơn 15 triệu thùng dầu trong năm 2006 và ước tính khoảng một phần ba thương mại thế giới. Biển ĐNA là rất quan trọng đối với mỗi quốc gia trong khu vực, đặc biệt đối với Nhật Bản, khi hơn 90% nhu cầu dầu của Nhật phải nhập khẩu và chủ yếu được vận chuyển qua biển ĐNA. Trung Quốc cũng phụ thuộc lớn vào việc vận chuyển qua biển ĐNA khi Trung Quốc nhập khẩu khoảng 43% nhu cầu năng lượng trong năm 2006 và năm 2020 này phụ thuộc được dự đoán sẽ tăng lên tới 60% hoặc thậm chí cao hơn.[2]

Bây giờ, khi Chiến tranh Lạnh đã qua đi, Biển ĐNA đáng lẽ đã có thể mang lại một môi trường hòa bình cho tất cả các nước liên quan. Trên thực tế, các nước đều có thể đi lại tự do ở vùng biển này từ trước chiến tranh thế giới thứ II. Trong nghìn năm lịch sử cho đến khi Thế chiến thứ hai nổ ra, không quốc gia nào từng đưa ra một yêu sách chủ quyền với vùng biển trong khu vực biển ĐNA với tư cách vùng nước nội thủy hoặc vùng nước lịch sử hay cố gắng thu thuế, phí bảo vệ vùng biển hay yêu cầu các nhà hàng hải nộp đơn đề nghị sử dụng vùng biển này.

Ngoài ra, cả ngàn năm trước khi thực dân xâm chiếm châu Á và trước Thế chiến thứ hai, không nước nào từng yêu sách chủ quyền, thiết lập chính quyền địa phương có hiệu quả, hoặc dự định dùng sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của mình trên bất kỳ hòn đảo nào thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhằm mục đích kiểm soát chính biển ĐNA.

Chỉ có một ngoại lệ và cũng chỉ dừng ở mức khai thác kinh tế, là ở vài hòn đảo nhỏ ở quần đảo Hoàng Sa, nơi mà từ năm 1816 vua Gia Long và các Hoàng đế Việt Nam sau này coi là lãnh thổ Việt Nam, hàng năm đều gửi thủy thủ để thu thập những tài sản có giá trị còn lại từ các vụ đắm tàu. Hành động này là bình thường đối với bất kỳ một quốc gia, đã đến một vùng đất không có người ở – để khai thác nguồn tài nguyên, nhất là những hòn đảo này ở gần Việt Nam hơn là gần các nước khác.

Trung Quốc chưa bao giờ có chủ quyền trên biển Đông Nam Á

Trung Quốc, ngay trong lúc năng lực hàng hải vào giai đoạn đỉnh cao ở thời nhà Minh, vào thế kỉ 15 đã gửi Trịnh Hòa (郑和, Zhenghe) với hàng nghìn tàu và hàng chục ngàn binh sĩ tiến hành cuộc thám hiểm qua biển ĐNA và Ấn Độ Dương để chứng minh sức mạnh quân sự của Trung Quốc và đưa các phái viên nước ngoài dọc theo tuyến đường biển tới Trung Quốc để biểu thị lòng tôn kính với hoàng đế Trung hoa và triều cống.

Tuy nhiên, các cuộc thám hiểm này không nhằm mục đích chiếm đóng đất đai hoặc là kiểm soát vùng biển này. Từ những cuộc thám hiểm như thế này và các cuộc thám hiểm bé hơn đã là cơ sở để vẽ ra bản đồ Trung Quốc và bản đồ các vùng đất bên ngoài. Những bản đồ về “thế giới trong mắt Trung Quốc” không hề thể hiện là các vùng đất liền, hải đảo và đại dương này thuộc chủ quyền Trung Quốc, mặc dù chúng thường được diễn giải như vậy bởi Trung Quốc và các học giả Trung Quốc để hỗ trợ cho lập luận của nước này rằng quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, và 80% diện tích Biển ĐNA là vùng đất lịch sử và vùng biển của Trung Quốc.[3]

Thế chiến thứ hai, đế quốc Nhật và ý đồ kiểm soát biển Đông Nam Á

Sự bất ổn tại biển ĐNA chỉ xảy ra khi Nhật Bản, trước và trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, đã cố gắng mở rộng quyền kiểm soát của họ trên Biển ĐNA.[4] Để chống lại sự mở rộng của Nhật Bản, và để bảo vệ các thuộc địa của họ, năm 1933 Pháp, một mình và đôi khi với sự khuyến khích của Anh, đã chính thức yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) và quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở vùng biển ĐNA. Trường hợp ngoại lệ là đảo Pratas (mà Trung Quốc gọi là Đông Sa) chỉ một mình Trung Quốc yêu sách chủ quyền và hiện nay đang kiểm soát đảo này.

Trung Quốc từ ý đồ sở hữu Hoàng Sa và Trường Sa

Kể từ sự sụp đổ của chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản và chủ nghĩa thực dân phương Tây sau Thế chiến II, quá khứ đế quốc của Trung Quốc dường như đang trỗi dậy, có vẻ như đang cố gắng khôi phục lại vinh quang đã qua của mình. Ngay sau khi chiến tranh, Trung Quốc bắt đầu thực hiện chính sách gặm nhấm từng bước biển ĐNA. Quá trình này bắt đầu với tuyên bố của Chu Ân Lai về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào năm 1951, và tiếp tục với những bước đi thận trọng để chiếm các đảo này khi Trung Quốc cảm thấy đủ an toàn để làm như vậy. Trong tuyên bố năm 2000, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra các lý do sau đây để viện dẫn cho yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa:[5]

Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với quần đảo Nam Sa [Trường Sa – tên gọi của Việt Nam] và các vùng nước lân cận. Trung Quốc là quốc gia đầu tiên phát hiện và đặt tên cho quần đảo là Nam Sa và là quốc gia đầu tiên thực hiện chủ quyền đối với quần đảo này. Chúng tôi có lịch sử phong phú và bằng chứng pháp lý để chứng minh điều đó và cộng đồng quốc từ lâu đã công nhận điều đó.

Trong Thế chiến II, Nhật Bản phát động các cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc và chiếm phần lớn lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả quần đảo Nam Sa. Điều này đã được nêu rõ trong Tuyên bố Cairo, Tuyên bố Potsdam và các văn bản quốc tế khác rằng tất cả các vùng lãnh thổ Nhật Bản đã bị đánh cắp từ Trung Quốc cần phải được giao lại cho Trung Quốc, và lẽ tự nhiên, chúng bao gồm quần đảo Nam Sa.

Tháng 12 năm 1946, Chính phủ Trung Quốc sau đó đã gửi quan chức cao cấp đến quần đảo Nam Sa để khôi phục chủ quyền. Lễ tiếp quản đã được tổ chức trên quần đảo và một tượng đài đã được dựng lên trong dịp kỷ niệm đó, và các binh sĩ đã được gửi qua làm nhiệm vụ đồn trú.

Năm 1952 Chính phủ Nhật Bản đã chính thức tuyên bố rằng Nhật Bản từ bỏ tất cả của nó “quyền, tên gọi và yêu sách chủ quyền đối với Đài Loan, đảo Bành Hồ cũng như các quần đảo Nam Sa và Tây Sa”, do đó chính thức trả lại quần đảo Nam Sa cho Trung Quốc. Tất cả các nước đều thấy rõ đây là một phần của nền lịch sử.

Như một vấn đề của thực tế, Hoa Kỳ công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Nam Sa trong một loạt các hội nghị quốc tế và thông lệ quốc tế sau đó.

Phần trích dẫn trên có nhiều tuyên bố sai so với sự thật. Hoàn toàn sai khi tuyên bố rằng Tuyên bố Cairo và Potsdam đã quyết định rằng quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa) được trả lại Trung Quốc. Cũng hoàn toàn sai khi nói rằng Mỹ công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Nam Sa. Đúng là Nhật Bản đã được yêu cầu phải từ bỏ tất cả các vùng đất mà họ đã chiếm đóng nhưng không có lệnh nào yêu cầu Nhật Bản trả Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Trên thực tế, đề nghị của Liên Xô về việc này đã bị bác bỏ.[6] Thật ra đề nghị của Liên Xô, chỉ sau tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa của Chu Ân Lai một tháng, là nhằm bành trướng khu vực kiểm soát cho khối cộng sản mà lúc đó Trung Quốc là một thành viên. (Các phân tích và tài liệu tham khảo với các sự kiện năm 1951 được liệt kê trong bảng phụ lục về biên niên sử các sự kiện liên quan đến biển ĐNA đã được kèm trong bài viết, và sẽ không được lặp lại ở đây). Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng Mỹ công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa bằng cách trích dẫn hai quyển tự điển do công ty tư nhân ở Mỹ vẽ và xuất bản thì quả thật là chuyện khôi hài. Chuyện khôi hài này vẫn còn trên mạng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc.[7]

Mỹ đứng ngoài tranh chấp?

Trước khi Mỹ phát biểu ở Hà Nội vào tháng 7 năm 2010 khẳng định lần đầu sự quan tâm của Mỹ về hòa bình ở Biển ĐNA, về quyền tự do lưu thông trên biển, sẵn sàng hổ trợ việc đàm phán đa phương các tranh chấp giữa các nước, tức là gạt bỏ chính sách của Trung Quốc chỉ muốn đàm phán song phương, cần phải chỉ ra một điều quan trọng là Hoa Kỳ đã không thể hiện bất kỳ mối quan tâm nào đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa kể từ năm 1950[8] cho đến năm 2010. Đây là lý do Trung Quốc tiếp tục tiến công vào Biển ĐNA, chiếm các đảo nằm trong tay Việt Nam, một nước được coi là thù địch với Mỹ, và hù dọa các nước khác. Chỉ gần đây, Mỹ đã nhiều lần tuyên bố:

“Hoa Kỳ luôn khẳng định chính sách cơ bản của chúng tôi liên quan đến yêu sách chủ quyền gây tranh cãi ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), gần đây nhất tại Đối thoại Shangri-La 2009, nơi Bộ trưởng Gates nói rằng Hoa Kỳ không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền và ủng hộ một giải pháp hòa bình để đảm bảo quyền tự do hàng hải”[9]

“Hoa Kỳ tiếp tục theo đuổi chính sách không đứng về bên nào trong tranh chấp yêu sách chủ quyền hợp pháp ở Biển Nam Trung Hoa. Nói cách khác, chúng tôi không đứng về bên nào trong tuyên bố về chủ quyền đối với các đảo cũng như các dải đất khác ở Biển Nam Trung Hoa, hoặc là miền biển (như vùng lãnh hải) có hiệu lực dựa trên cơ sở vùng đất lãnh thổ. Tuy nhiên, Hoa Kỳ quan ngại về các yêu sách chủ quyền đối với “vùng lãnh hải” hoặc bất kỳ vùng biển nào không dựa trên cơ sở vùng đất lãnh thổ. Những tuyên bố về vùng biển như vậy không phù hợp với luật quốc tế, như đã được phản ánh trong Công ước Luật Biển của LHQ”[10]

Gậm nhấm chờ thời của Trung Quốc

Chính sách gặm nhấm của Trung Quốc đã được tính toán cẩn thận và căn thời điểm để tránh càng nhiều càng tốt bất kỳ phản ứng đáng kể nào của thế giới.

Năm 1974, Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm cụm đảo Lưỡi Liềm (Crescent) ở quần đảo Hoàng Sa lúc bấy giờ do quân đội miền Nam Việt Nam quản lý ngay sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris 1972 về chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Việc này diễn ra đúng vào thời điểm miền Bắc Việt Nam, đồng minh của Trung Quốc đang phải tập trung nỗ lực vào cuộc chiến.

Năm 1988, Trung Quốc một lần nữa hành động, sử dụng vũ lực chiếm đảo Gạc Ma (Johnson South Reef) thuộc quần đảo Trường Sa vốn thuộc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nhằm đặt chân lên quần đảo Trường Sa. Việc này được thực hiện vào thời điểm hải quân Liên Xô ở Vịnh Cam Ranh, Việt Nam gần như không còn hoạt động do tình hình hỗn loạn ở Liên bang Xô Viết và đó cũng là lúc Việt Nam bị cô lập với quốc tế do vấn đề Campuchia.

Việc giành quyền kiểm soát một cách lén lút của Trung Quốc đối với đảo Vành Khăn ở Trường Sa từ tay Philippines không được phát hiện cho đến năm 1994 và 1995, và nó đã được tính toán xảy ra đúng vào thời điểm Hoa Kỳ đã được chính phủ Philippines yêu cầu đóng cửa căn cứ quân sự ở nước này.

Tuy nhiên, có một việc nằm ngoài kế hoạch của Trung Quốc là vào thời điểm này, Trung Quốc đang đối mặt với sự tẩy chay của cộng đồng quốc tế do việc đàn áp bạo lực tại quảng trưởng Thiên An Môn năm 1989. Thế nhưng, đó cũng có thể là hành động được Trung Quốc tính toán trước, như là một phép thử cần thiết về phản ứng đối với Trung Quốc một khi nước này có hành động đối với đồng minh thân cận của Mỹ.

Yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo này chỉ là một bước đi ban đầu để tiến đến mục tiêu tham vọng hơn nhiều là kiểm soát toàn bộ Biển ĐNA. Trung Quốc đã xuất bản bản đồ 9 đoạn hình chữ U hầu như bao trọn vùng nước đại dương thuộc biển ĐNA như lãnh thổ của Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa bao giờ đưa ra một tuyên bố rõ ràng và cung cấp các luận chứng cho tuyên bố của mình. [11]

Từ chờ thời đến biểu dương sức mạnh quân sự

Tuy nhiên, năm 2009, phản ứng trước việc Malaysia và Việt Nam đăng kí chung về thềm lục địa lên Ủy ban về ranh giới ngoài thềm lục địa của LHQ ngày 6/5/2009, Trung Quốc cũng đã trình lên Ủy ban này tuyên bố về vùng nước rộng lớn bao quanh “đường ranh giới” 9 đoạn mà Trung Quốc vẫn chưa xác định rõ trên bản đồ.

Tuyên bố ngày 7/5/2009 viết, “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo ở biển Nam Hải và các vùng nước lân cận, và được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và các tầng đất dưới bề mặt vùng biển đó (xem đính kèm)”.

Vùng nước liên quan của Trung Quốc trên thực tế là “những tuyên bố về vùng lãnh hải hoặc bất kỳ vùng biển nào không dựa trên cơ sở vùng đất lãnh thổ”, mối quan ngại không chỉ của Mỹ mà tất cả các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Bản đồ kèm theo (bản đồ số 1 dưới đây) là đường chữ U chín đoạn gãy, nhưng không có tọa độ chính xác rõ ràng, đã được Trung Quốc chính thức nộp cho Liên Hợp Quốc nhằm nói lên rằng lãnh thổ trên biển của Trung Quốc gồm tới hơn 80% Biển ĐNA. Bản đồ số 2 tương tự như bản đồ số 1 được sử dụng để thể hiện không chỉ đòi hỏi của Trung Quốc mà còn mở rộng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc chồng lấn vào khu vực 200 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế của hầu hết các nước ở khu vực ĐNA, bao gồm Brunei, Malaysia, Indonesia, Philippines và Việt Nam.
Lãnh hải trong khu đường gạch chữ U Trung Quốc nộp cho Ủy ban Giới hạn Thềm Lục địa của Liên Hợp Quốc (UN’s commission on the Limits of the Continental Shelf)

Tuyên bố của Trung Quốc nếu được thực hiện sẽ cho phép Trung Quốc được toàn bộ Biển ĐNA và đẩy Mỹ và các cường quốc khác ra khỏi khu vực. Tuyên bố này đã làm thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lo ngại ở hai điểm. Trước tiên, quyền của các nước ASEAN đối với các khu dầu mỏ, quyền đánh bắt cá và khai thác tài nguyên dưới lòng đất khác sẽ bị hạn chế nghiêm trọng. Ví dụ, Việt Nam và Exxon Mobile hợp tác khai thác dầu khí ở giếng dầu Rồng Xanh (Blue Dragon) và bờ đá Vanguard nằm trong thềm lục địa Việt Nam, nhưng đồng thời cũng nằm trong đường ranh giới chữ U của Trung Quốc. Hai là, như đã thể hiện rõ ở bản đồ 2, biển ĐNA sẽ là một hồ nước không thể chối cãi của Trung Quốc nếu đường ranh giới chữ U của Trung Quốc được chấp nhận. Chấp thuận yêu sách của Trung Quốc về quyền cấm tàu và máy bay quân sự nước ngoài đi qua vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc là chấp nhận rằng Trung Quốc có được quyền lực quân sự hiếm có để kiểm soát Biển ĐNA.

Sau tuyên bố chính thức về đường chữ U, Trung Quốc thực hiện nhiều cuộc diễn tập Hải quân lớn và liên tục tại Biển Đông,[12] một phần để thử sức mình, nhưng phần lớn là nhằm hù dọa các nước về sực mạnh quân sự của mình. Sau khi không thấy phản ứng của các cường quốc, Trung Quốc tiến xa hơn, tuyên bố chính thức coi biển ĐNA là “lợi ích cốt lõi” của họ, giống như Đài Loan, Tây Tạng mà họ sẵn sàng dùng võ lực để bảo vệ.[13] Một sĩ quan Trung Quốc giấu tên ở Quảng Châu, trả lời trong một cuộc phỏng vấn với giọng vừa hiếu chiến nhưng cũng khá thực tế là “vài hòn đảo ở Nam Sa và Tây Sa hiện bị các nước khác chiếm đóng…Hiên nay, có vẻ như không có biện pháp giải quyết nào khác ngoài việc dùng vũ lực. Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến các cuộc chiến tranh trường kỳ. Các đảo này nằm xa lục địa, nhiều cái không người ở, cho nên giả dụ chúng tôi chiếm lại được thì cũng khó bảo vệ.”[14] Chính sách của Đặng Tiểu Bình qua câu nói thao quang dưỡng hối [韬光养晦, tao quang yang hui], có nghĩa là dấu sáng, nuôi cơ hội, phải chăng đã lỗi thời? Cơ hội mới này phải chăng là khả năng làm bá chủ biển ĐNA hay bị thế giới lên án là một cường quốc hiếu chiến vô trách nhiệm?

Điều này đẩy Mỹ phải thay đổi chính sách về Biển ĐNA. Trong Diễn Đàn Khu vực ASEAN (ARF) diễn ra ở Hà Nội vào ngày 22 và 23 tháng 7 năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hellary Clinton đã khẳng định “Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc tự do lưu thông hàng hải, tự do tiếp cận các vùng biển ở châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông“. Mỹ cũng cho rằng tìm kiếm giải pháp tranh chấp lãnh thổ là “ưu tiên ngoai giao hàng đầu” và khẳng định Mỹ “ “sẵn sàng hổ trợ cho đàm phán đa phương nhằm giải quyết các yêu sách đối kháng về đảo.” và coi Calling the resolution of the territorial disputes “a leading diplomatic priority,”[15], [16] Bài diễn văn đã được 11 nước lớn khác tham dự ủng hộ.[17] Quan điểm mới của Mỹ là nhằm trả lời thách thức của Trung Quốc. Trung Quốc tỏ ra bất ngờ về thái độ của Mỹ.

Dù sao đây là cuộc đối đầu dài lâu mang tính chiến lược vì an ninh kinh tế và quốc phòng của các nước phương Tây và các đồng minh của họ ở châu Á. Nó khác hẳn với cuộc chiến tranh ở Afghanistan chỉ mang tính cục bộ chống khủng bố. Cuộc đối đầu này có thể rất tốn kém cho Mỹ vì Mỹ phải tập trung không chỉ xây dựng sức mạnh hải quân mà cón sức mạnh quân sự ở đất liền. Cuộc đối đầu nhằm cân bằng sức mạnh mang tính phiêu lưu của Trung Quốc, dù mang tính chất gìn giữ hòa bình, sẽ khó thực hiện dài lâu nêu dân chúng thế giới, đặc biệt là dân chúng Mỹ và dân chúng ASEAN không ủng hộ. Thế của Mỹ sẽ yếu đi nếu các nước ASEAN không đạt được một thỏa thuận nào quan trọng nhằm chặn đứng hành động bạo lực của Trung Quốc, thí dụ như việc luật hóa được “Tuyên bố về Hành vi của Các bên ở Biển Nam Trung Hoa” ra đời năm 2002.[18]

Và đằng sau đề nghị hợp tác của Trung Quốc

Để che giấu mối đe dọa đó, Trung Quốc luôn kêu gọi hợp tác trong việc khai thác chung các nguồn tài nguyên. Lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra đề nghị với Philippines mà sau đó Việt Nam cùng tham gia Thỏa thuận thăm dò địa chấn hải dương chung ở một số khu vực của biển Nam Trung Hoa, gọi tắt là JMSU 7/2005. Thỏa thuận ba bên này giữa Philippines, Trung Quốc và Việt Nam nhằm thăm dò trữ lượng dầu và khí ở Biển Nam Trung Hoa đã hết hiệu lực vào tháng 7/2007 và không được ký lại khi Chính phủ Philippines phải đối mặt với sự phản đối gay gắt từ phía Nghị viện và báo chí nước này.[19] Ai cũng có thể dễ thấy là không thể hợp tác trên cơ sở là các nước phải chấp nhận chủ quyền trên toàn Biển ĐNA của Trung Quốc.

Tham vọng kiểm soát biển Đông Nam Á

Với mục tiêu đảm bảo cho tham vọng kiểm soát biển ĐNA của Trung Quốc, Hải quân Trung Quốc đã xây dựng căn cứ tàu ngầm tại đảo Hải Nam, có khả năng đáng kể trong việc gài mìn trong biển, chương trình chống tên lửa đạn đạo, và phát triển và đầu tư công nghệ quân sự được thiết kế để thách thức hải quân Mỹ tiếp cận vào vùng biển Đông Á, và có kế hoạch xây dựng các tàu sân bay.[20], [21]

Chiến lược được Trung Quốc đưa ra rõ ràng nhằm bao quanh biển ĐNA như vùng lãnh thổ của Trung Quốc và ngăn chặn những lực lượng bên ngoài xâm nhập vào vùng nước được nước này yêu sách chủ quyền. Đồng thời, mục tiêu của chiến lược này là ngăn cấm các quốc gia như Việt Nam đánh bắt cá trong vùng hình chữ U, và trên thực tế Trung Quốc đã triển khai thực hiện từ tháng 5/2009. Đây là hành động chuẩn bị cơ sở cho việc khai thác tài nguyên tích cực trong đường ranh giới chữ U với sự bảo vệ của hải quân Trung Quốc.

Cách diễn giải “độc đáo” luật biển quốc tế của Trung Quốc liên quan đến chính quyền của quốc gia ven biển nhằm hạn chế hoặc ngăn cấm các hoạt động quân sự nước ngoài ở vùng đặc quyền kinh tế là một phần trong kế hoạch nhắm tới của Trung Quốc là thực hiện độc quyền kiểm soát quân sự của Trung Quốc tại không gian biển bên trong đường chữ U. Sự kiểm soát này tương tự như sự kiểm soát để thực hiện chủ quyền đối với lãnh hải Trung Quốc” [22]

Rõ ràng hơn, Đô đốc Timothy Keating, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đã nói về cuộc gặp gỡ Đô đốc Trung Quốc năm 2009 như sau:

” … khi chúng tôi – Trung Quốc xây dựng tàu sân bay, liệu chúng ta có thể đưa ra một thỏa thuận: Hoa Kỳ sẽ ở phía đông của Hawaii, chúng tôi sẽ ở lại phía tây của Hawaii và chúng tôi có thể giúp Mỹ tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc di chuyển tới tất cả các đường ở phía tây Thái Bình Dương. Các bạn sẽ cho chúng tôi biết điều gì đang diễn ra và các bạn đang ở đâu, và chúng tôi sẽ thông tin về những gì đang xảy ra và vị trí của chúng tôi. Tất cả mọi thứ sẽ thật tuyệt. Tôi đã từ chối lời đề nghị của ông ta.” [23]

Thật khó để hình dung Trung Quốc, quốc gia đã phải chịu nhiều đau khổ từ chủ nghĩa đế quốc Nhật và phương Tây có thể sử dụng cách tiếp cận tương tự để đe dọa các quốc gia khác như cách Trung Quốc đã làm trước khi phương Tây đến châu Á.

Sự khăng khăng được lặp lại nhiều lần của Trung Quốc rằng Trung Quốc có chủ quyền “không thể thương lượng” – “non-negotiable”[24] và “không thể tranh cãi” [25] đối với các quần đảo ở biển ĐNA không nhất quán với lời kêu gọi của Trung Quốc về việc khai thác chung ở vùng biển ĐNA với các bên tuyên bố khác, trừ khi điều Trung Quốc thực sự muốn là khu vực khai thác chung là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ĐNA, nơi mà vùng đặc quyền kinh tế của các nước này chồng lấn với đường ranh giới chữ U do Trung Quốc tuyên bố. Đường ranh giới chữ U không dựa trên cơ sở lịch sử cũng như pháp lý nào.

Bài viết này sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề chính liên quan đến nội dung khái quát trên, nhằm đánh giá các yêu sách chủ quyền trên cơ sở các văn bản lịch sử và luật pháp quốc tế. Không có tài liệu lịch sử mới nào được giới thiệu trong bản nghiên cứu này. Tuy nhiên, một sự nghiên cứu kĩ lưỡng hơn đối với các văn bản có sẵn hiện nay có thể cung cấp những sự diễn giải mới mẻ.

Cùng với việc nghiên cứu kĩ lưỡng luật pháp quốc tế, việc kiểm tra lại các văn bản lịch sử hi vọng sẽ mở ra những cuộc đàm phán nhiều bên một cách hợp lý hoặc đưa tới phân xử quốc tế dựa trên cơ sở thực tiễn, hơn là những hành động mang đậm chủ nghĩa dân tộc. Ít nhất, với các nước thành viên ASEAN, những quốc gia sẵn sàng đàm phán và những người không có động lực trong việc kiểm soát biển ĐNA, việc xem lại thực tế có liên quan hi vọng sẽ giúp dẫn tới một giải pháp công bằng và hợp lý.

Nguồn: Thời Đại Mới

Chú thích:

[1] Yves Lacoste đề nghị đặt tên lại trong “Les deux Méditerranées”, Hérodote, Revue de géographie et de géopolitique, no. 27, 1982, p. 5.

[2] T Clive Schofield and Ian Storey, The South China Sea Dispute: Increasing Stakes and Rising Tensions, Jamestown Foundation, November 2009, p. 7-8.

[3] Có 3 loại bản đồ các học giả Trung Quốc thường vẽ trong quá khứ. Loại thứ nhất là bản đồ Trung Quốc, phản ánh cương vực thực của Trung quốc thí dụ bản đồ Đại Thanh Nhất thống Toàn đồ. Loại hai là như Thanh bản Thiên hạ Toàn đố, phản ánh cả vùng mà Trung Quốc coi là vùng ảnh hưởng hay phiên thuộc của mình. Và cuối cùng là loại ba ghi lại các cuộc thám hiểm của người Trung Quốc.

[4] Đây là một trong những lập luận chính của Tonnesson. Coi Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline,Modern Asian Studies, vol. 40, no. 1, 2006.

[5] Coi: The Issue of South China Sea, Ministry of Foreign Affairs People’s Republic of China June 2000, trên mạng của Federation of American Scientist: http://www.fas.org/news/china/2000/china-000600.htm

[6] Hội nghị phủ quyết với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận đề nghị của Liên Xô với 13 chỗ bổ sung, 1 trong những điều bổ sung là Nhật phải trao trả Hoàng Sa và Trường Sa (Paracels and the Spratlys) cho Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Coi James William Morley, The Soviet-Japanese Peace Declaration, Political Science Quarterly, Summer 1957.

[7] International Recognition Of China’s Sovereignty over the Nansha Islands. http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19232.htm

[8] Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline, Modern Asian Studies, vol. 40, no. 1, 2006, p. 47.

[9] Điều trần của Phụ tá Thứ trưởng Quốc phòng (Deputy Assistant Secretary of Defense) Robert Scher trước Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương, Ban Ngoại giao, Thượng viện Mỹ, 15 tháng 6 năm 2007.

[10] Điều trần của Phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao Scot Marciel trước Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương, Ban Ngoại giao, Thượng viện Mỹ, 15 tháng 6 năm 2007.

[11] Coi Peter Kien-Hong Yu, “The Chinese (Broken) U-shaped line in the South China Sea: Points, Lines and Zones”, Current Southeast Asia, vol 25, no. 3, 2003. trang 407. Về đường chữ U có 9 điểm gãy do Bai Meichu , một viên chức của Cộng Hòa Dân quốc Trung Hoa (bây giờ là Đài Loan) tự nghĩ ra năm 1947, Yu viết: “Rất có thể là anh ta bị thúc đẩy bới bản năng chiếm hữu từ đáy lòng như ngạn ngữ đã nói, ý tưởng đã là 9 phần mười của luật). Thật vậy, Bai thấy Pháp chiềm hữu (từ tháng 7 năm 1933 6 đảo ở Nam Sa (hay Spratly) và đã nói hay có thể coi là tự cảm thấy bằng cách nào đấy phải bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc.”

[12] Carl Thayer, Security Challenges, Vol. 6, No. 2 (Winter 2010), pp. 69-84.

[13] China Warns U.S. to Stay Out of Islands Dispute,http://www.nytimes.com/2010/07/27/world/asia/27china.html?_r=1

[14] Wu Zhong, A Daring Departure from Dang, Asia Times 6 August 2010. http://www.atimes.com/atimes/China/LH06Ad02.html

[15] U.S. Challenges China on Island Chain. http://www.nytimes.com/2010/07/24/world/asia/24diplo.html?hp

[16] Roiling the South China Sea. http://search.japantimes.co.jp/cgi-bin/ed20100805a1.html

[17] Clinton stand on a Chinese ‘core interest’ causes tension at forum, South China Morning Post July 24, 2010. http://www.viet-studies.info/kinhte/clinton_and_chinese_core_interest.htm

[18] Coi http://www.aseansec.org/13163.htm

[19] Coi Jess Diaz , DFA bucks House bill on RP Spratly claim, Philippine Star, 13 Tháng 3 năm 2008

[20] Coi báo cáo toàn diện về tăng cường quân sự của Trung Quốc của Richard Fisher, Jr. The Implications of China’s Naval Modernization for the United States, Testimony before the U.S. –China Economic and Security Review Commission, 11 tháng 6 năm 2009. http://www.strategycenter.net/research/pubID.199/pub_detail.asp.

[21] Điều này được Keating, Đô đốc Hải quân Mỹ xác nhận, coi “Asia-Pacific U.S. Military Overview”, http://2002-2009-fpc.state.gov/113312.htm.

[22] Điều trần của Phó Giáo sư Peter Dutton, Viện China Maritime Studies Institute, U.S. Naval War College trước Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương, Ban Ngoại giao, Thượng viện Mỹ, 15 tháng 7 năm 2009.

[23] Coi Đô đốc Keating ở trên.

[24] Tháng 7 năm 1977, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Huang Hua xác định lại rằng chủ quyền Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa là điều “không thể thương lượng”: “cương vực Trung Quốc kéo dài tới tận bãi cạnJames Shoals, gần Borneo của Mã lai…Tôi nhớ là khi còn nhỏ đi học, tôi đã đọc về những đảo này trong sách địa lý. Lúc đó, tôi chưa bao giờ nghe thấy ai nói là nó không thuộc Trung Quốc…Người Việt cho rằng họ có chủ quyền ở đó.Cứ để họ nói kiểu đó. Nhiều lần họ đề nghị ta thương thuyết nhưng ta luôn luôn từ chối…Về chủ quyển những hòn đảo, chúng ta có bằng chứng lịch sử có thể kiểm tra. Không cần gì thương thuyết vì chúng thuộc Trung Quốc.” (Beijing Review, 22 tháng 7 năm 1977).

[25] Coi The Issue of South China Sea,đd; và “China reiterates sovereignty in South China Sea”, China Daily, 30 tháng giêng năm 2010 trên http://www.chinadaily.com.cn/china/2009-02/03/content_7442878.htm

Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam: Một Sản Phẩm Của Nghị Quyết 36?

Nguyễn Quang Duy

Nhiệm Vụ 8 Nghị Quyết 36

Nghị Quyết Bộ Chính trị là một văn bản cao nhất của đảng Cộng sản để chỉ thị cán bộ đảng viên thi hành công tác đã được Bộ chính trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng biểu quyết. Nghị quyết số 36 – NQ/TW được ban hành ngày 26-3-2004 chỉ thị các họat động trong cộng đồng ngừơi Việt hải ngọai. Nghị quyết này gồm bốn phần (1) nhận định tình hình (2) đề xướng chủ trương và phương hứơng thực hiện (3) Nhiệm vụ phải thực hiện và (4) tổ chức việc thực hiện.

Nhận định về tiềm năng kinh tế hải ngọai, Nghị quyết 36 đánh giá như sau: “Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước.”

Từ đó Nghị quyết vạch ra nhiệm vụ thứ 8 chỉ thị cán bộ đảng viên cộng sản: “Các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và đoàn thể nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia tích cực vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài với các cơ quan hữu quan, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, giữa trong nước với ngoài nước. Củng cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, như Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, các hội thân nhân kiều bào và các hình thức tập hợp chính đáng khác, phù hợp với ý nguyện và đặc điểm của cộng đồng ở địa bàn cư trú. Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một nhiệm vụ chính trị quan trọng ...”

Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam tại Hoa Kỳ: Chi Hội Đầu Tiên

Theo tin từ Vietnamnet.vn ngày 28/04/2010, một chi hội đầu tiên của Hiệp Hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài đã được thành lập tại Hoa Kỳ . Ông Phạm Thiếu Hoa – Tổng Thư ký Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam ở nước ngoài cho biết: “Trong nguồn kiều hối mà bà con Việt kiều gửi về Việt Nam mỗi năm khoảng 8-10 tỷ Đô la Mỹ thì khoảng 60-70% trong số đó được gửi về từ Mỹ (mà chủ yếu là lực lượng doanh nhân).Tuy nhiên, nguồn đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt tại Hoa Kỳ về nước còn thấp, mới chỉ đạt khoảng hơn 200 triệu USD, chưa xứng với tiềm năng của các doanh nghiệp này. Chính vì vậy, việc ra đời Chi hội Hoa Kỳ của Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài có tầm quan trọng rất lớn...” Rõ ràng mục đích chính của chi hội đầu tiên là tiền đâu ? Xin tạm gọi là chi hội tiền đâu.

Ông Phạm Thiếu Hoa còn cho biết: “Hầu hết ở các nước có đông người Việt Nam sinh sống đều đã có các Hội doanh nhân người Việt. Nhiều lãnh đạo và thành viên của các Hội này đã trở thành Hội viên của Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài. Trong thời gian tới, Hiệp hội sẽ xúc tiến việc kết hợp chặt chẽ hơn với các Hội doanh nhân trên dưới các hình thức phù hợp (có thể là Chi hội hoặc Hội thành viên) tùy theo điều kiện của từng địa bàn cụ thể.” Ông Hoa công khai công nhận việc đảng Cộng sản đang tiếm danh hay tiếm quyền. Xin các Hội Thương Gia cảnh giác.

Riêng tại Victoria, có đến 4 Hội Thương Gia họat động bấy lâu nay nhằm bảo vệ quyền lợi thiết thực của các thương gia Việt buôn bán trong khu vực. Các Hội Thương Gia đều gắn bó với sinh họat Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Victoria . Như trong lần biểu tình chống văn hóa vận vừa qua 8/8/2010, Hội Thương Gia khu vực Footscray đã đóng góp các biểu ngữ lớn bằng tiếng Anh để gỉai thích mục đích cuộc biểu tình.

Hội Doanh nhân Việt Nam - Autralia

Đầu tháng 7 vừa qua, Hội Doanh nhân Việt Nam - Autralia đã ra mắt tại Melbourne . Báo Lao Động ra ngày 24/07/2010 cho biết ông Trần Bá Phúc là Chủ tịch Hội, hai ông Lê Tony Huy và Phan văn Danh là phó Hội, Thủ quỹ là ông Hồ Chí Vạn. Không thấy đề cập đến chức danh Tổng thư ký. Xem chừng chưa kiếm ra người đủ chữ nghĩa để điền vào chỗ khuyết này.

Chủ tịch Hội Trần Bá Phúc là một người rất “nổi tiếng” tại Melbourne . Theo tin từ Họat Động Mặt Trận (mattran.org.vn) thì ông Phúc còn là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam và là Chủ tịch Hội Việt kiều tại thành phố Melbourne và Australia. Nhân 30 tháng 4 năm nay, ông Phúc đã tiếp ông Vũ Trọng Kim Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung Ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Buổi họp tiếp Vũ Trọng Kim của “Mặt Trận Tổ Quốc” (nguồn: mattran.org.vn)

Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài một tổ chức trực thuộc đảng Cộng sản

Hai Quyết định đính kèm chứng minh Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài do chính đảng Cộng sản lập ra. Quyết Định thứ nhất cho phép thành lập Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài do Bộ Nội Vụ cấp ngày 13/3/2009. Quyết Định thứ hai của Bộ Ngọai Giao ban hành ngày 04/09/2009, về việc công nhận Ban chấp hành, Ban Kiểm Tra và Tổng Thư Ký Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam ở nước ngòai.

Điều 2 của Quyết Định do Bộ Nội Vụ cấp nói rất rõ: “… Hoạt động của Hiệp hội chiụ sự quản lý nhà nước của Bộ Ngọai Giao và các Bộ, ngành khác có liên quan về lĩnh vực Hiệp hội họat động...” Để ý kỹ “Nơi nhận” quyết định có cả Bộ Quốc Phòng (Tổng Cục II) và Bộ Công An (Tổng Cục V, C 13). Tổng Cục II và Tổng Cục V là hai cơ quan tình báo cộng sản.

Việc các cơ quan công an và tình báo theo dõi sinh họat của người Việt hải ngọai không phải là chuyện lạ. Luật sư Nguyễn Hữu Liêm, trong Ban Chấp Hành Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam tại Hoa Kỳ, lần về Việt Nam tham dự “Hội Nghị Ngừơi Việt Tòan Thế Giới” đựơc tổ chức tại Hà Nội tháng 11/2009 đã cho biết điều này. Ông Liêm cho biết công an đón ông tại phi trường, công an đưa vào khách sạn, công an bảo vệ, công an đưa đến Hội Nghị, đầy công an bên trong Hội Nghị và (có thể) ông đã được công an đưa ra phi trường ngay sau khi Hội Nghị bế mạc. Các tham dự viên từ hải ngọai về Việt Nam chắc cũng cùng chung định mệnh.

Việc cần quan tâm là vai trò của các cơ quan tình báo này đối với Hiệp Hội Doanh nhân Việt Nam, cộng đồng người Việt hải ngọai và các nước sở tại. Cũng như sự liên hệ giữa các thành viên Hiệp Hội với hai cơ quan tình báo này.

Còn Quyết Định Bộ Ngọai Giao thì nêu rõ Quyết Định cho thành lập của Bộ Nội Vụ là :”Căn cứ vào Nghị Quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính Trị…”. Như vậy Hiệp hội Doanh Nhân Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận trực thuộc đảng Cộng sản Việt Nam. Nói cách khác Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam chỉ là một sản phẩm của Nghị quyết số 36.

Xin ghi chú văn bản Nghị quyết số 36 chúng ta có được là văn bản công khai. Còn các văn bản tuyệt mật để chỉ thị các công tác điệp báo của Tổng Cục II thuộc Bộ Quốc Phòng và Tổng Cục V, C 13 thuộc Bộ Công An thì chỉ lưu hành trong nội bộ các cơ quan tình báo này.

Hiệp Hội Doanh nhân Việt Nam là một sản phẩm của đảng Cộng sản đặt cho ta nhiều câu hỏi:

Thứ nhất, có thể đây chỉ là hàng mẫu sản xuất và trưng bày để tô màu Đại Hội Đảng lần thứ 11 và Bộ Ngọai Giao kiếm ghế trong Trung Ương Đảng;

Thứ hai, hàng này có đóng dấu “made in Vietnamese communist party” không biết có đúng theo tiêu chuẩn pháp lý Hoa Kỳ, Úc và các quốc gia khác hay không? Có ảnh hưởng đến an ninh công cộng nước sở tại hay không?

Thứ ba, hàng này đựơc đảng cộng sản bao cấp, không biết có cạnh tranh công bằng với các Hội Thương Gia người Việt tự do hay không ?

Thứ tư, sản phẩm này sẽ tạo bất lợi gì cho tuyệt đại đa số các thương gia làm ăn lương thiện không chấp nhận tham gia Hiệp Hội do cộng sản kiểm soát?

Thứ năm, người tiêu thụ cộng đồng có tiêu thụ nổi món hàng “made in Vietnamese communist party” này hay không?

Và còn nhiều câu hỏi khác rất mong các bạn đọc từ mọi giới lãnh đạo cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, các luật sư, các thương gia,... và nhất là các nhà báo, các bình luận gia xin giúp người viết trả lời.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
11/8/2010

Trung Cộng “ngán” nhất khi các nước đang phát triển hợp thành một khối

Viễn Đông Daily

Sự phát triển của Trung Cộng về tiềm năng kinh tế, nhân lực, và chính trị đang đẩy nhanh Trung Cộng tới vai trò của một cường quốc, mở rộng sân chơi cho nước này trên chính trường thế giới. Đồng thời, Trung Cộng cũng không ngừng lấn áp các nước đang phát triển ở các lục địa từ châu Phi qua châu Á để trục lợi, bành trướng lãnh thổ, lãnh hải, nhằm khai thác tài nguyên bất kể những ảnh hưởng tai hại đến môi trường. Một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của sự bành trướng của Trung Cộng là Việt Nam, dưới sự lãnh đạo nhu nhược của đảng cầm quyền Cộng sản. Nào là việc đắp đập ngăn dòng sông Mê Kông đến kế hoạch khai thác quặng bauxite; rồi việc lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải, đến việc chia rẽ những nước láng giềng, Trung Cộng đều tích cực nhúng tay vào nhằm thực hiện mưu đồ bành trướng.

Nhân dịp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đến tham dự cuộc họp ASEAN vào cuối tháng 7-2010 vừa qua, đồng thời bày tỏ ý hướng sắp tới của Hoa Kỳ về chính sách ngoại giao trong khu vực Đông Nam Á, nhật báo Viễn Đông đã tham khảo ý kiến một số học giả chuyên về Trung Cộng, từ cái nhìn quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung và những quyền lợi xung khắc cũng như thuận hợp. Một trong những học giả đó là Tiến sĩ Elizabeth Economy thuộc Học viện Quan hệ Ngoại Giao (Council on Foreign Relations - CFR), trụ sở tại Washington D.C. CFR cũng là tổ chức nghiên cứu ấn hành tạp chí Foreign Affairs được giới chính khách, giới học giả, và độc giả quan tâm về ngoại giao chú ý từ nhiều thập niên qua. Ts. Economy đã dành cho Viễn Đông một buổi phỏng vấn ngày 5-8-2010.

Tiến sĩ Elizabeth Economy là một chuyên gia lâu năm về chính sách nội địa và ngoại giao của Trung Cộng, quan hệ Mỹ-Trung, và các vấn đề môi sinh trên thế giới. Ts. Economy hiện là nhà nghiên cứu C.V. Starr Senior Fellow và giám đốc chương trình nghiên cứu Á châu. Ts. Economy đã viết nhiều chương sách, bài nghiên cứu, bình luận, và những bản phúc trình, trong đó có quyển The River Runs Black: The Environmental Challenges to China’s Future (Dòng sông đổi màu đen: Những thử thách môi sinh đối với tương lai Trung Quốc). Hiện tại, bà đang soạn thảo một cuốn sách mới về sự lớn mạnh của Trung Cộng và những chuyển biến về chiến lược, địa lý chính trị trong tương lai. Ts. Economy tốt nghiệp bằng tiến sĩ từ đại học University of Michigan. Bà thông thạo tiếng Hoa và nói được tiếng Nga.

Viễn Đông: Trong chuyến công du vừa qua của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, tham dự Hội nghị ASEAN tại Hà Nội vào cuối tháng 7-2010, bà Clinton đã nhắc tới việc Hoa Kỳ xem Biển Đông là một phần quyền lợi của Hoa Kỳ, điều này chắc hẳn đã làm cho nhà cầm quyền Trung Cộng “nhảy dựng”...

Tiến sĩ Elizabeth Economy: Không nghi ngờ gì nữa!

Viễn Đông: Tại sao vào thời điểm này, mà không phải là trước đây, Hoa Kỳ lại lên tiếng về vấn đề Biển Đông?

Ts. Economy: Từ khi Tổng thống Obama đắc cử, các nước trong khu vực Đông Nam Á liên tục nhờ chính phủ Hoa Kỳ (bắt đầu từ thời Bush) chú ý hơn một chút về các vấn đề trong khu vực. Khi TT Obama bắt đầu nhiệm kỳ, ông cho biết là có những hoạch định để tham gia nhiều hơn trong khu vực, và áp dụng những biện pháp đa phương trong các vấn đề ngoại giao toàn cầu nói chung. Đông Nam Á là một khu vực ông quan tâm một phần vì lai lịch của ông. Việc NT Clinton đi công du kỳ này là một phần diễn tiến tự nhiên trong sự cam kết quan tâm dành cho khu vực.

Riêng về câu phát biểu của NT Clinton bày tỏ ước mong được giúp đạt đến một cách giải quyết ôn hòa và nêu ra những lợi ích trong việc cố gắng giải quyết vấn đề một cách đa phương, tôi nghĩ đó là một sự phản hồi từ phía Hoa Kỳ đối với các quốc gia trong khu vực đang quan tâm về mối tranh chấp Biển Đông. Vì trong mối tranh chấp này, chúng ta có một bên là các nước nhỏ, và một bên là Trung Quốc khổng lồ, mạnh mẽ, ngày càng hung hăng trong việc khẳng định chủ quyền trên vùng biển này. Trung Quốc cũng đã từng lên tiếng rằng Biển Đông là một trong những quyền lợi nòng cốt của họ. Và mặc dù gần đây họ có dịu đi một chút, điều đó cũng đã gióng một hồi chuông cảnh tỉnh cho các nước trong khu vực và, ở bình diện rộng hơn, Hoa Kỳ ở mức độ cần góp sức giải quyết vấn đề này.

Viễn Đông: Bà có nghĩ rằng sẽ nổ ra việc đụng độ quân sự mạnh mẽ hơn nếu Hoa Kỳ nhúng tay vào?

Ts. Economy: Chúng ta đã thấy có những cuộc đụng độ quân sự nhỏ giữa Trung Quốc và một số nước trong vùng cùng khẳng định chủ quyền trên Biển Đông. Nghĩa là, vùng này đã có xảy ra những sự việc có sử dụng quân sự. Tôi không nghĩ rằng Hoa Kỳ muốn có bất kỳ sự liên hệ về quân sự nào trong mối tranh chấp ở vùng này với Trung Quốc, và cũng không muốn đụng độ với Trung Quốc ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Tôi cũng cho là không nước nào trong khu vực lại muốn thấy điều đó xảy ra. Điều rất cần phải có là việc nối lại đàm phán quân sự cấp cao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, và hội luận đa phương giữa Trung Quốc với các nước liên hệ. Đây thực sự là một thử thách vì Hoa Kỳ đã vạch ra rất rõ ràng ước mong muốn nói chuyện với các viên chức quân sự của Trung Quốc, và đã thử nhiều lần. Nhưng phía Trung Quốc, từ lâu nay, vẫn xem những cuộc đàm phán này như một gánh nặng hơn là một cơ hội. Cho nên, cứ hở một chút, là họ hủy bỏ đàm phán. Tương tự như vậy, trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cũng chẳng hề mong muốn cùng ngồi xuống với Hoa Kỳ để thảo luận việc này.

Viễn Đông: Đây cũng không phải lần đầu Trung Cộng có thái độ tránh né đàm phán. Thí dụ, dòng sông Mê Kông đầu nguồn ở Trung Cộng chảy xuống khu vực hạ lưu qua nhiều nước. Từ khi Trung Cộng xây đập thủy điện, những nước ở hạ nguồn bị ảnh hưởng trực tiếp, nhưng Trung Cộng cũng chẳng thiết tha gì đến việc đàm phán đa phương để tìm cách giải quyết những vấn đề môi sinh của khu vực?

Ts. Economy: Trung Quốc muốn hợp tác với các nước dọc theo dòng sông Mê Kông để phát triển đập thủy điện, nhưng Trung Quốc chưa bao giờ muốn ngồi xuống với các nước này để nói chuyện về hậu quả môi sinh gây ra do việc khai thác thủy điện ở thượng nguồn, và đương nhiên là họ có lý do trốn tránh. Việt Nam và Campuchia đều cho rằng những gì xảy ra ở thượng nguồn làm ảnh hưởng nặng nề đến nền nông nghiệp của họ ở hạ nguồn. Do đó, Trung Quốc né tối đa việc đàm phán này vì họ biết sẽ bị nhiều áp lực của các nước chịu ảnh hưởng, buộc họ phải thay đổi cách khai thác tài nguyên của họ.

Không riêng gì sông Mê Kông, Trung Quốc cũng không chịu ngồi xuống thương lượng với Ấn Độ và các nước Trung Á khi những hoạt động của Trung Quốc ở vùng cao nguyên Tây Tạng ảnh hưởng đến những nước này. Hành vi này có thể gần như được xem là một chính sách của Trung Quốc. Trung Quốc giữ quyền kiểm soát trên những nguồn nước thuộc lãnh thổ của họ, và họ ấn định chủ quyền trên những nguồn nước này. Do đó, câu hỏi căn bản là Trung Quốc nghĩ như thế nào về những nguồn nước trên lãnh thổ của họ.

Biển Tây trong Vịnh Thái Lan giáp với Campuchia cũng là một nơi mà Trung Cộng nhắm tới cho ý đồ bành trướng. Do vậy, càng ngày Trung Cộng càng trở nên thân thiện với Campuchia bằng cách giúp đỡ nguồn tài trợ, nhằm chia rẽ Campuchia và Việt Nam – ảnh: David Nguyễn/Viễn Đông

Viễn Đông: Xem ra Trung Cộng khá là cao ngạo, chỉ chơi theo luật do mình tự đặt ra, không cần đếm xỉa gì đến cộng đồng thế giới, và né tránh bất cứ cuộc thương thuyết nào?

Ts. Economy: Trung Quốc né ngay những cuộc đàm phán nào họ thấy không có lợi cho họ, khi họ thấy trong phòng hội thảo chẳng có mấy nước chịu làm bạn với họ. Trung Quốc thường đưa ra luận điệu “cùng hợp tác, cùng thắng”, nhưng họ cũng nhìn thấy vấn đề, như ở sông Mê Kông, Trung Quốc là nước nắm giữ tất cả những lá bài tốt.

Chỉ có một chiến lược mà tôi cho là đã được chứng minh có hiệu quả đối với Trung Quốc: nếu tất cả các nước bị ảnh hưởng đoàn kết với nhau thành một khối và tạo áp lực công khai lên Trung Quốc, thì mới buộc được Trung Quốc ngồi vào vòng đàm phán. Ngoại giao theo kiểu “đóng cửa lại bảo nhau” chẳng có hiệu quả gì, mà phải là sự tập hợp lực lượng đa phương tập trung chĩa mũi dùi về phía Trung Quốc, làm cho họ xấu hổ, thì mới được.

Trung Quốc dẫu sao cũng muốn cộng đồng thế giới nhìn mình như một nước tham dự tích cực. Trung Quốc không muốn bị xem như một kẻ đứng ngoài, một loại “con ghẻ”. Tuy nhiên, chỉ khi nào cả thế giới lên tiếng mạnh mẽ về một vấn đề nào đó, như tình hình Sudan được phản ảnh lên Thế Vận Hội 2008, hay hiện tượng khí hậu toàn cầu đang thay đổi như được bàn thảo ở Copenhagen, chẳng hạn, thì Trung Quốc buộc phải lắng nghe.

Bình thường, Trung Quốc chẳng hề để tai tới những gì Hoa Kỳ nói, hay Liên Hiệp Âu Châu, hay Nhật Bản, về những gì Trung Quốc nên làm. Nhưng khi các nước đang phát triển hợp thành một mặt trận đoàn kết, bước tới và nói với Trung Quốc là họ có trách nhiệm hơn nữa, Trung Quốc sẽ bước lui và nói rằng họ sẽ không giành những nguồn trợ giúp của thế giới của các nước đang phát triển vì có nhiều nước cần hơn họ, v.v.. Cho nên, tôi nghĩ có cách để thúc đẩy Trung Quốc cùng giải quyết một vấn đề, nhưng cần nhiều cố gắng từ tất cả các quốc gia liên hệ, nhiều thay đổi chính sách, để cùng nói lên tiếng nói mạnh mẽ cho những điều họ quan tâm.

Viễn Đông: Có phải Trung Cộng lùi bước khi các nước đang phát triển đồng loạt lên tiếng là vì Trung Cộng muốn đóng vai “đàn anh”, bảo vệ các “em nhỏ”?

Ts. Economy: Từ lâu nay, Trung Quốc đã muốn đóng vai trò lãnh đạo các nước đang phát triển. Nhưng họ không thể trở thành một nước lãnh đạo khi các nước đang phát triển ồ ạt lên tiếng phản đối những hành vi của Trung Quốc. Đó là tại sao họ cảm thấy như cần phải có những phản hồi đối với những nước đang phát triển, nhưng chỉ khi nào những nước này cùng đoàn kết để đòi hỏi mà thôi.

Viễn Đông: Với chiều hướng ngoại giao của Trung Cộng như vậy, bà có nghĩ rằng một lúc nào đó trong tương lai, Trung Cộng sẽ lãnh đạo khối các nước đang phát triển, tạo thành một trục thế lực mới, và những nước Âu Mỹ sẽ thuộc về một trục khác, như thời Chiến Tranh Lạnh?

Ts. Economy: Không, không hề. Bản đồ ngoại giao thế giới có thể thay đổi theo thời gian tùy theo những biến chuyển về quyền lợi của các nước, và đương nhiên là Trung Quốc sẽ ngày càng bành trướng vai trò của mình trên chính trường thế giới. Chúng ta có thể quan sát được chiều hướng bành trướng của Trung Quốc về mặt quân sự, nhất là lực lượng hải quân. Chúng ta có thể theo dõi những viện nghiên cứu của Trung Quốc để biết những chi tiết về sự nới rộng này. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, trong tương lai, chúng ta sẽ thấy Trung Quốc tích cực tham dự nhiều hơn vào cộng đồng thế giới, nhưng tôi không nhìn thấy điều này như là Trung Quốc và khối các nước phát triển ở một phe, còn phe kia là Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu, v.v..

Cho tôi đặt lại câu hỏi này, Việt Nam sẽ thuộc về phe nào nếu có sự phân chia như vậy? (Cười). Mỗi quốc gia có những quyền lợi khác nhau và sẽ có ý kiến khác nhau về những vấn đề cần giải quyết. Ấn Độ và Trung Quốc sẽ có thể làm việc với nhau về hiện tượng thay đổi khí hậu, nhưng Ấn Độ và Trung Quốc đang rất căng thẳng vì những tranh chấp nơi vùng biên giới, đem binh sĩ tới đồn trú ở ngay sát biên giới. Ấn Độ cũng lo ngại về những hành vi của Trung Quốc trên nguồn nước chảy xuống khu vực hạ lưu thuộc về Ấn Độ. Do vậy, chúng ta thấy có những vấn đề nóng bỏng, nảy lửa giữa Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng cũng có những vấn đề họ có thể cùng nhau giải quyết một cách hữu hiệu.

Nói tóm lại, chúng ta sẽ thấy nhiều biến chuyển trong những mối quan hệ ngoại giao giữa các nước và Trung Quốc dựa trên căn bản của từng vấn đề, chứ không phải việc thành lập một khối “NATO” do Trung Quốc cầm đầu. Nước nào sẽ ghi danh vào khối này? Hỏi thật đó, nước nào sẽ chịu theo vào khối? Bắc Hàn à? Hay Zimbabwe?

Viễn Đông: Xin cám ơn Tiến sĩ Economy đã dành thời giờ cho buổi phỏng vấn này.

Nguồn: http://viendongdaily.com/Contents.aspx?item=90&contentid=8371

Chuyện làm ăn của Mỹ

Lữ Giang

Ngày 15.4.2010, khi được tin Citibank của Hoa Kỳ cấp vốn 200 triệu USD cho Việt Nam khai thác bauxite tại Lâm Đồng, rất nhiều người đã hỏi chúng tôi tại sao Mỹ làm như vậy?

Dự án tổ hợp bauxite nhôm tại Tân Rai, Lâm Đồng, khởi công ngày 26.7.2008. Dự án này do Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) làm chủ đầu tư và công ty Chalieco của Trung Quốc làm nhà thầu chính. Người Việt chống cộng ở trong và ngoài nước đã phát động một chiến dịch rầm rộ chống lại dự án này, viện lý do việc khai thác bauxite có thể gây tác hại nghiêm trọng cho xã hội và môi trường, và Trung Quốc sẽ lợi dụng sự khai thác này đem “quân” xâm chiếm vùng Tây Nguyên của ta.

Nếu những lý do nói trên là chính xác, tại sao Mỹ lại đi tiếp tay cho Việt Cộng và Trung Cộng? Trước khi trả lời câu hỏi này, cần phải tìm hiểu Trung Quốc đang làm gì ở Việt Nam, sau đó mới có thể thấy Mỹ đang làm gì.

Ông Đỗ Tiến Sâm, Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu của Trung Quốc cho biết:

“Trung Quốc hiện là đối tác thương mại của 220 quốc gia, là thầu khoán công trình ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, viện trợ ODA đến 90 nước và đầu tư FDI ở 129 nước. Cả bốn nội dung hợp tác kinh tế này đều có ở Việt Nam”.

Qua lời tuyên bố này, chúng ta thử tìm hiểu Trung Quốc đã làm ăn như thế nào tại Việt Nam, từ mậu dịch qua đầu tư đến đấu thầu.

Nhìn một cách tổng quát, chúng ta thấy trong hơn 20 năm qua, cán cân mậu dịch của Việt Nam luôn bị thâm hụt, còn đầu tư FDI (Foreign Direct Investment) tức đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, tức từ Trung Quốc, chỉ chiếm 1,5% tổng vốn FDI của các nước đổ vào Việt Nam. Trong khi đó, tổng số trúng thầu EPC của Trung Quốc chiếm tới 90% các công trình điện, khai thác khoáng, dầu khí, luyện kim và hóa chất của Việt Nam.

THÂM THỦNG MẬU DỊCH DÀI DÀI

Trong năm 2008, Việt Nam đã nhập khẩu từ Trung Quốc số lượng hàng hóa có giá trị lên đến 15.652.126.000 USD, trong khi chỉ xuất cảng sang Trung Quốc được 4.535.670.000 USD. Cán cân mậu dịch của Việt Nam thâm hụt 11.116.456.000 USD.

Kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng gấp 24,4 lần trong 10 năm, từ 673 triệu USD năm 1999 lên 16,44 tỷ USD năm 2009. Trong khi đó, số hàng Việt Nam bán cho Trung Quốc chỉ tăng khoảng 6,6 lần, từ 746 triệu USD lên 4,91 tỷ USD. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2010, cán cân mậu dịch của Việt Nam đã thâm hụt tới 6,2 tỷ USD, chiếm 80% tổng số thâm hụt từ các nước.

Sở dĩ có sự thâm hụt nói trên là vì các lý do sau đây: (1) Giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc quá dễ dàng: Có chung đường biên giới trên bộ dài đến hàng trăm km. (2) Nhập hàng Trung Quốc về rẻ hơn và giản tiện hơn tự sản xuất, có lợi hơn. Sản phẩm của họ chất lượng tốt, giá lại rẻ, mua càng nhiều càng rẻ. (3) Người Trung Quốc giữ chữ tín và chiều chuộng đối tác.

CHỈ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP SƠ SÀI

Tài liệu do Việt Nam công bố cho thấy đầu tư FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài - Foreign Direct Investment) của Trung Quốc tại Việt Nam như sau:

Tính đến 20.7.2010, Trung Quốc đã đầu tư vào Việt Nam 733 dự án, với tổng số vốn đăng ký là 3,17 tỷ USD trong đó vốn điều lệ là 1,4 tỷ USD. So với vốn đầu tư FDI mà các nước trên thế giới đã đổ vào Việt Nam hơn 188 tỷ USD (còn hiệu lực), đầu tư FDI của Trung Quốc chỉ chiếm có 1,5% và xếp thứ 14 trong số 91 quốc gia đầu tư vào Việt Nam.

Ông Nguyễn Thế Phương, Thứ Trưởng Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư, cho biết: Dự án lớn nhất mà Trung Quốc đã đầu tư là nhà máy sản xuất phôi thép của Công ty TNHH Fuco đặt tại khu công nghiệp Phú Mỹ II (Bà Rịa – Vũng Tàu) với vốn đăng ký là 180 triệu USD. Một vài dự án khác có vốn đăng ký trên 100 triệu USD thuộc về các lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu công nghiệp, khu chế xuất tại Sài Gòn, Hải Phòng và Lào Cai.

Trung Quốc chỉ chú trọng thu hút FDI của các nước khác vào Trung Quốc và đầu tư ra nước ngoài rất ít. Trung Quốc đã thu hút được một số vốn đầu tư FDI nước ngoài lớn nhất ở châu Á và đứng thứ ba trên thế giới về thu hút vốn đầu tư FDI.

THẮNG 90% CÁC VỤ THẦU EPC

Như chúng tôi đã nói ở trên, cán câm mậu dịch của Việt Nam luôn thâm thủng nặng khi buôn bán với Trung Quốc và Trung Quốc chỉ đầu tư trực tiếp nhỏ giọt vào Việt Nam. Trái lại Trung Quốc đã chiếm hầu hết các vụ đấu thầu quốc tế EPC tại Việt Nam. Thầu EPC bao gồm toàn bộ các công tác cố vấn, thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư, xây lắp vận hành, v.v. Về các công trình điện, khai thác khoáng sản, dầu khí, luyện kim, hóa chất của Việt Nam các công ty đấu thầu Trung Quốc đã chiếm tới 90%.

Bộ Công Thương cho biết có 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang tham gia làm tổng thầu EPC hoặc đối tác đầu tư trong 41 dự án ở Việt Nam. 41 dự án này đều là dự án kinh tế trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia hoặc an ninh năng lượng. Trong số đó có 12 dự án về điện lực, 4 dự án dầu khí, 5 dự án khai khoáng, 5 dự án luyện kim, 5 dự án hóa chất, 3 dự án cơ khí và 7 dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ và dịch vụ. Chủ đầu tư đều là những trụ cột kinh tế Việt Nam như Tập Đoàn Than – Khoáng Sản, Tập Đoàn Dầu Khí, Tập Đoàn Điện Lực, Tổng Công Ty Thép, Tổng Công Ty Hóa Chất.

Theo thống kê sơ bộ, lĩnh vực điện của Việt Nam đã thu hút các nhà thầu Trung Quốc nhiều nhất. Tổng số các dự án này là áp đảo so với các ngành khác. Hai tập đoàn lớn sau đây của Trung Quốc đã trúng thầu các lô đó, đó là Tập Đoàn Điện Khí Thượng Hải – Trung Quốc (SEC) và Tập Đoàn Đông Phương Trung Quốc. Năm 2007, Tập đoàn SEC đã trúng thầu cả 2 công trình nhiệt điện Quảng Ninh 1 và Quảng Ninh 2 với giá trị mỗi lô khoảng trên 400 triệu USD. Sau đó SEC lại trúng thầu dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 2 trị giá 1,3 tỷ USD.

Tại sao Trung Quốc lại trúng thầu dễ như vậy?

Hiệp Hội Cơ Khí Việt Nam cho biết đấu thầu về giá, không có nhà thầu nào có thể vượt qua các nhà thầu Trung Quốc. Theo luật Việt Nam, ở giai đoạn 1 sơ tuyển về năng lực và kinh nghiệm, các nhà thầu Trung Quốc đều vượt qua, kể cả các nhà thầu không có kinh nghiệm, vì họ có thể thuê các nhà tư vấn có kinh nghiệm thầu hoặc liên kết với một số nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm thầu. Đến giai đoạn 2 là đấu giá thương mại thì không ai cạnh tranh nổi với các nhà thầu Trung Quốc.

Ông Tạ Văn Hường, Vụ Trưởng Vụ Năng Lượng, Bộ Công Thương nói: “Và khi đó, với một mức giá rẻ như vậy, cộng với cam kết về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu, thì không có lý do gì mà Việt Nam “từ chối” hồ sơ của họ, nhất là khi chúng ta luôn thiếu vốn làm điện”.

Sau khi trúng thầu, 100% công việc tại dự án đều do các công nhân từ Trung Quốc được “nhập khẩu” vào để thực hiện, từ lao động phổ thông như nấu ăn, vệ sinh, bảo vệ, cho đến kỹ sư, công nhân, lắp máy và vật tư, v.v. Đây là “đoàn quân” được nhóm người Việt chống cộng mô tả như là đoàn quân Trung Quốc xâm chiếm nước ta, nhưng Đại Sứ Mỹ Michalak bênh vực: "Tôi cho rằng tình hình thực tế tại hiện trường có nhiều khác biệt, so với những câu chuyện gieo hoang mang sợ hãi mà tôi đã được nghe. Tôi tin là những câu chuyện ấy đã được... nói thế nào nhỉ, “thổi phồng”...

Rất nhiều người lo ngại về chất lượng của các công trình mà Trung Quốc đã thực hiện.

VÀI NÉT VỀ DỰ ÁN BAUXITE

Có thể nói, trong lãnh vực khai thác khoáng nhôm và bauxit hiện nay tại Việt Nam, Trung Quốc gần như trúng 100% gói thầu EPC. Nhật và Úc đành chào thua.

Tại Tây Nguyên, Công ty công trình quốc tế nhôm Trung Quốc Chalieco đã trúng lô thầu ở Lâm Đồng của Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam với trị giá 466 triệu USD. Đây cũng là một dự án lớn nhất của ngành khai thác khoáng Việt Nam với tổng vốn đầu tư lên đến 8.000 tỷ đồng VN. Chỉ 2 năm sau, mặc dù việc triển khai dự án ở Lâm Đồng tiến triển chậm, Chalieco vẫn trúng thầu dự án Alumin Nhân Cơ – Đăk Nông với trị giá lớn hơn: 499,2 triệu USD.

Báo cáo ngày 22.5.2010 của chính phủ gởi cho Quốc Hội có ghi như sau:

“Việt Nam được xác định là một trong những nước có nguồn bô-xít lớn trên thế giới. Tổng trữ lượng quặng bô-xít đã xác định và tài nguyên dự báo khoảng 5,5 tỷ tấn (đứng thứ 3 thế giới), trong đó khu vực miền Bắc khoảng 91 triệu tấn, còn lại tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam khoảng 5,4 tỷ tấn. Trữ lượng đã xác định khoảng 4,4 tỷ tấn, dự báo khoảng 1 tỷ tấn. Đây là yếu tố quan trọng và quyết định việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất alumin và nhôm kim loại Việt Nam”.

Nguồn tài nguyên bô-xít của Việt Nam tập trung chủ yếu ở các tỉnh khu vực Tây Nguyên với trữ lượng và tài nguyên dự báo khoảng 5,4 tỷ tấn, trong đó Đăk Nông khoảng 3,4 tỷ tấn (chiếm 63% tổng trữ lượng), Lâm Đồng khoảng 975 triệu tấn (chiếm 18%), Gia Lai - Kon Tum khoảng 806 triệu tấn (chiếm 15%) và Bình Phước khoảng 217 triệu tấn (chiếm 4%). Mặc dù Tây Nguyên là địa bàn kinh tế - xã hội còn khó khăn, cơ sở hạ tầng và trình độ dân trí còn hạn chế, nhưng lại là khu vực có lợi thế về nguồn tài nguyên bô-xít chiếm 98,2% tổng trữ lượng và tài nguyên bô-xít.

MỸ PHẢI NHẢY VÔ

Trước triển vọng và tình trạng nói trên, Mỹ phải nhảy vô vì không muốn để cho Trung Quốc độc quyền khai thác bauxit tại Việt Nam. Công ty khai thác bauxite Aluminum Company of America của Mỹ có thể cạnh tranh với với các công ty của Trung Quốc.

Hiện nay trên thế giới có 38 nước có bauxite, trong đó có Hoa Kỳ, Anh, Úc, Nhật, Pháp, Canada, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Indonesia, Mã Lai, v.v. Dĩ nhiên là khi các công ty khai thác bauxite của Hoa Kỳ, Úc hay Nhật trúng thầu khai thác bauxite tại Việt Nam, họ phải có phương pháp để bảo đảm việc khai thác không phương hại đến môi trường. Vấn đề là làm sao cạnh tranh được với Trung Quốc vì Trung Quốc bỏ thầu vói giá quá thấp.

Hoa Kỳ không phải chỉ cạnh tranh với Trung Quốc về khai thác bauxite mà còn muốn trở thành nước đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Như chúng tôi đã nói, đầu tháng 6 vừa qua, một phái đoàn kinh doanh Hoa Kỳ thuộc tổ chức Hội Đồng Kinh Doanh Hoa Kỳ-Asean có trụ sở ở Washington DC, gồm 23 đại diện các tập đoàn kinh doanh lớn ở Hoa Kỳ đã đến viếng thăm Việt Nam để chuẩn bị kế hoạch tham gia đầu tư về hạ tầng tại Việt Nam. Trong bước đầu, Hoa Kỳ sẽ hợp tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại Sài Gòn và các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cơ sở hạ tầng không chỉ là đường xá, cầu cống mà còn là sự đồng bộ của trường học, bệnh viện, hệ thống xử lý rác thải, công viên.

Mỹ muốn dùng Việt Nam làm tiền đồn ngăn chận sự phát triển của Trung Quốc xuống Đông Nam Á về cả quân sự lẫn kinh tế, và cũng từ Việt Nam Mỹ mở rộng thị trường tại Đông Nam Á.

Người Việt hải ngoại theo chủ trương diễn biến hoà bình của Mỹ coi đây như là một cơ hội để đẩy mạnh các hoạt động làm thay đổi trên quê hương. Còn người Việt hải ngoại theo đuổi chiến tranh lạnh vẫn ngồi ở Bolsa tố cáo nhau là “hoà hợp hòa giải với cộng sản”, tay sai cộng sản hay đặc công cộng sản nằm vùng, hăng say đi đập mấy con gián và hô thắng lợi. Mỹ làm gì ở Việt Nam mặc Mỹ.

Ngày 10.8.2010.
Lữ Giang