Sonntag, 4. Juli 2010

Made in VIỆT NAM

Huy Phương

Tom Cannon là một trong những giáo sư xuất sắc về chuyên ngành Phát triển Chiến lược của trường đại học Liverpool (Anh Quốc), giám đốc điều hành của công ty Ideopolis International Ltd. Ông từng làm cố vấn cho nhiều chính phủ của nhiều quốc gia và cố vấn cao cấp của trên 30 tập đoàn xuyên quốc gia lớn. Trong lần viếng thăm Việt Nam vào đầu Tháng Tám vừa qua, Giáo Sư Cannon đã “phát biểu” với VN Express: “Nhật Bản có Panasonic hay Sony, Hàn Quốc nổi tiếng vì Daewoo và Samsung. Nhưng nói đến Việt Nam, người ta không nhớ ra bất cứ thương hiệu nào”.

Không văn minh tiến bộ như Nhật Bản, Ðại Hàn sản xuất xe hơi, TV, điện thoại thì Việt Nam cũng phát triển được công nghệ làm nước mắm, tôm khô, bánh tráng… ““xuất khẩu”” qua đến Cali. Từ thời mở cửa, có giao thương đến nay, người Việt về thăm quê hương, khi trở lại Mỹ cũng đã “bê” theo nhiêu thứ hàng “độc” “Made in Vietnam” (theo nghĩa là vừa quý hiếm, vừa có thể “độc” chết người). Chúng ta thấy Việt Nam sản xuất nhiều món hàng lạ. Ngoài các món mít, xoài, thơm, chuối… phơi khô, bắp, ổi, chùm ruột, mãng cầu, vú sữa… đông lạnh, chúng ta thấy dân ta rất nhiều sáng kiến hái ra tiền rất độc đáo, như mướp đắng xắt nhỏ phơi khô, cá cơm rang và nhất là món cơm cháy, nghe nói là nhà sản xuất đi gom mua cơm thừa ở các nhà hàng ăn về tẩy màu, trộn gia vị, sấy khô, đóng bao bì để xuất cảng. Rồi bao nhiêu thứ trà, như trà đinh, trà đắng, trà xanh, trà nhàu, trà rong biển, trà gừng, trà hà thủ ô… Tất cả các con, cây, lá, mọi vật chung quanh đều có thể pha chế, vô bao bì dưới cái mác “Made in Vietnam”, không thiếu độc tố để chi viện cho ba triệu núm ruột ở xa đang nhớ món ăn quê hương. Chỉ thiếu có thứ lá sắn (khoai mì) mà báo Nhân Dân Hà Nội sau Tháng Tư 1975 đã viết bài nghiên cứu “ba ký lá sắn bằng một ký thịt bò” là chưa sấy khô, đóng gói ““xuất khẩu”” mà thôi.

Thật ra Tom Cannon phải biết đến món hàng “Made in Vietnam” nổi tiếng nhất là thứ “bê tông” cốt tre, chưa có một quốc gia nào trên thế giới theo kịp về mẫu mã, chất lượng, có thể tiết kiệm cho quốc gia hàng chục tỷ đồng trong các công tác xây dựng từ cầu cống đến nhà cửa.

Nhưng đó chỉ là những món hàng “xuất khẩu” nhỏ, theo đúng quốc sách thì hiện nay món hàng “xuất khẩu” lớn nhất của Việt Nam là phụ nữ, một món trời cho không cần phải nuôi như cá ba sa, trồng như cây cà phê hay vỗ béo như gà vịt để xuất cảng. Trong một cuộc hội thảo do Thời Báo Kinh Tế Việt Nam và Hội Phụ Nữ Việt Nam tổ chức ngày 18 Tháng Sáu 2006 đã đề cập đến việc cần xây dựng “thương hiệu” cho phụ nữ Việt Nam, nghĩa là một thứ “Marque Deposé” trong tiếng Pháp hay “Trade Mark” trong tiếng Anh, tên của món hàng “Made in Vietnam” bán ra thị trường. Phụ nữ được bán ra thì phụ nữ cũng cần có thương hiệu. Cuộc hội thảo cho biết, lịch sử Việt Nam không thiếu những hình ảnh phụ nữ tuyệt đẹp để làm biểu tượng, đó là Âu Cơ, Tiên Dung Công Chúa, Huyền Trân hay tệ lắm thì cũng là những nhân vật tưởng tượng như “Võ Thị Sáu”, “Cô gái Bến Tre”, “Bà Mẹ Bàn Cờ” thời chống Mỹ. Vậy thì hội phụ nữ và chính phủ Việt Nam sẽ chọn logo nào đây cho món hàng tươi xuất cảng hàng năm, rất đắt giá và cũng làm người Việt khắp năm châu phải cúi mặt hổ thẹn.

Cù lao Tân Lộc nằm giữa sông Hậu thuộc huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ từ lâu đã có tên gọi khác là “đảo Ðài Loan”, tổng số chỉ có 33,000 dân mà đã “xuất cảng” được 1,500 cô gái sang Ðài Loan, ngày nay lại chuyển hướng sang Ðại Hàn. Hội Phụ Nữ tỉnh Cần Thơ kết toán chỉ từ đầu năm 1995 đến Tháng Sáu 2003, tỉnh đã có 9,000 phụ nữ ghi tên kết hôn với người nước ngoài, trong đó có 6,000 sang Ðài Loan. Trong thời gian này tính chung cả nước có khoảng 60,000 cô gái từ 18 đến 25 tuổi đã được nhà nước đưa đi xuất ngoại (nhà nước không có chính sách, ai dám công khai kết hôn, cho lên máy bay). Ông Gow Wei Chiou, đại diện Ðài Loan ở Hà Nội, đã xác nhận trong 10 năm trở lại đây, đã có 100,000 gái Việt được “gả hay bán” sang nước ông. Theo một con số do Hội Liên Hiệp Phụ Nữ đưa ra, khoảng thời gian này cũng có chừng 28,000 cô đi Hàn Quốc.

Thời giá ““xuất khẩu”” gái Việt ra ngoại quốc hiện nay chừng $6,000 đô la, tuy vậy, qua bọn con buôn, trong đó có nhà nước Cộng Sản cấu kết với bọn môi giới để đưa “hàng” phụ nữ ra nước ngoài, đồng tiền buôn thịt đến tay gia đình chỉ còn khoảng vài trăm đô la, vì họ hy vọng, con gái khi sang được đất khách, sẽ tìm cách làm việc để gởi tiền về, đó mới là nguồn lợi chính thức và lâu dài. Số tiền $6,000 sẽ vào tay một mạng dịch vụ chằng chịt có cả công an, xã ấp như tiền huê hồng ma cô, giấy chứng nhận của chính quyền địa phương, học ngoại ngữ, khám sức khỏe, phí tổn đám cưới, tiền di chuyển…

Tại Ðài Loan, tờ Trung Hoa Thời Báo đã thẳng thắn đả kích việc quảng cáo bán gái Việt trên đất Ðài Loan như “cô dâu Việt gái $18,000 (tiền Ðài Loan). Bảo đảm gái trinh, nếu không trả tiền lại”“người chưa vợ, chết vợ hay tật nguyền đều có thể lấy vợ Việt”. Tại Singapore, Hội Phụ Nữ nước này cũng bất bình công khai lên tiếng khi có cảnh ba cô gái Việt Nam được trưng bày trong thương xá Golden Mile Complex. Ở Malaysia hàng chục thiếu nữ Việt Nam được những người Mã môi giới đưa sang Malaysia được đưa ra trưng bày tại các quán cà phê để đàn ông nước này đến xem mắt. Một chính khách nước này, ông Michael Chong đã lên án tệ nạn ấy, và nói gia đình các cô gái, thường là nghèo, đã nhận từ 20,000 đến 30,000 ringgit (5,600 đến 8,500 đôla) tùy theo nhan sắc của họ. Các nhóm hoạt động vì nữ quyền ở Malaysia tỏ ra bất bình trước các việc đã xảy ra. Maria Chin Abdullah, đứng đầu một nhóm hoạt động vì phụ nữ, nói với tờ báo Star, như chửi vào mặt nhà cầm quyền Việt Nam: “Hành vi này chỉ có thể xem là hình thức nô lệ tình dục được tiến hành trong một khuôn khổ pháp lý giả tạo”.

Trong khi đó chính phủ Việt Nam câm miệng làm ngơ trước cảnh nhục nhã, khốn cùng của phụ nữ Việt Nam vì chính họ chủ trương phụ nữ Việt Nam là một món hàng cần “xuất khẩu” cũng như một thương hiệu để mời mọc khách du lịch đến Việt Nam. “Con gái Việt Nam đẹp lắm!”, đó là lời quảng cáo của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết.

Trên đây chỉ là những món hàng được gởi đi theo con đường chính thức có hộ chiếu do các cơ quan công an cấp. Khi một món hàng cầu cao hơn cung, qua ngõ nhà nước thuế má nặng nề thì sinh ra tệ nạn buôn lậu. Những món hàng phụ nữ này thường xuyên được chuyển lậu ra ngoại quốc qua nhiều ngã như biên giới Trung Quốc hay Kampuchea. Năm 2008, cả nước phát hiện 375 vụ buôn bán, phụ nữ, trẻ em, với hơn 700 đối tượng, lừa bán hơn 900 nạn nhân. Tình hình buôn bán phụ nữ trẻ em ra nước ngoài rất quy mô và thủ đoạn hoạt động phạm tội ngày càng tinh vi, có tổ chức. Chúng ta đã nghe nói nhiều đến chuyện phụ nữ Việt Nam qua ngã Móng Cáy gã bán lậu cho Tàu hay đưa trẻ em sang làm đĩ ở Kampuchea.

Hiện nay, không có con số chính thức Hà Nội đã “xuất khẩu” bao nhiêu gái Việt ra nước ngoài… hiện tượng đã quá rõ ràng nhưng chính phủ vẫn tránh né hay vờ vịt không biết đến. Ngày nay nói đến đặc sản “Việt Nam”, người ta nghĩ gì, phải chăng là những điều dối trá, cùng với món hàng phụ nữ rẻ nhất thế giới. Thương hiệu danh tiếng “Ôm – Made in Vietnam” quả là độc đáo, không lẫn với ai, không có bất cứ đất nước nào sánh kịp. Từ “Bia Ôm”, “tàn dư của Mỹ Ngụy” năm xưa, với đầu óc sáng tạo, ngày nay trên đất xã hội chủ nghĩa có hàng trăm “mặt hàng” ôm mới lạ như karaoke ôm, hớt tóc ôm, ngủ trưa ôm…

Nếu không có sự tẩy chay, phản đối của cộng đồng người Việt ở quốc ngoại, thì gánh hát quảng cáo thương hiệu gái “Duyên Dáng Việt Nam” sẽ làm những cuộc lưu diễn bất tận ở nước ngoài để trình bày sản phẩm “Made in Vietnam” này...

Rút bài học lịch sử

Lữ Giang

Trong tuần qua, báo chí đã bàn khá nhiều về việc Tướng Stanley McChrystal, Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ và Đồng Minh tại chiến trường Afghanistan, đã bị mất chức vì có những lời phê phán nặng nề về đường lối điều hành cuộc chiến tại Afghanistan của một số nhà làm chính sách và lãnh đạo ở Washington. Nhưng đa số chỉ bàn đến các biến cố đã xẩy ra chung quanh lời phê phán của Tướng McChrystal và bộ tham muu của ông, chứ không nói lên những mặt trái đàng sau: Tại sao Tướng McChrystal và bộ tham mưu của ông đã có những bất mãn như vậy? Đường lối của các nhà làm chính sách ở Washington đang chuẩn bị để đưa cuộc chiến Afghanistan đi về đâu? Số phận của Afghanistan rồi có gióng VNCH trước đây không? Tổng Thống Hamid Karzai đang tìm một lối thoát như thế nào sau khi Mỹ rút?

Trên đây là những vấn đề chúng ta cần tìm hiểu qua biến cố McChrystal.

CÁCH NHÌN KHÁC NHAU

Sự bất đồng giữa người chỉ huy mặt trận và các nhà làm chính sách ở Washington đã nhiều lần xẩy ra trong lịch sử nước Mỹ, nhất là trong cuộc chiến Triều Tiên và cuộc chiến Việt Nam, nay đến cuộc chiến ở Afghanistan.

Tướng MacArthur đã có một câu nói nổi tiếng: "In war, there is no substitute for victory". (Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng). Các tướng lãnh chỉ huy quân sự lấy sự chiến thắng tại mặt trận là mục tiêu tối hậu nên luôn đòi hỏi những điều kiện và phương tiện để có thể chiến thắng, nhưng các nhà làm chính sánh và lãnh đạo quốc gia có mục tiêu khác hơn và tầm nhìn rộng hơn, nên sự bất đồng giữa hai bên là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, dù trong chế độ dân chủ hay độc tài, người chỉ huy mặt trận luôn phải tuân hành mệnh lệnh của người làm chính sách, người lãnh đạo quốc gia.

Trong cuộc chiến Triều Tiên, khi thấy Trung Cộng trực tiếp đưa quân can thiệp vào Bắc Triều Tiên, Tướng MacArthur đã đề nghị tấn công qua biên giới Triều Tiên và oanh tạc các căn cứ quân sự của Trung Cộng tại Mãn Châu để chấm dứt chiến tranh và ngăn chận sự bành trướng của Trung Cộng. Ông đã mở cuộc họp báo để nói lên quan điểm của ông. Nhưng Tổng Thống Truman và các cố vấn trong chính phủ Hoa Kỳ không chỉ bác bỏ đề nghị của ông mà còn cách chức ông. Washington không muốn mở một cuộc chiếm mới với Trung Cộng và chọn giải pháp cắt đôi bản đảo Triều Tiên.

Trong cuốn hồi ký mang tên “War in Vain” (Cuộc chiến Vô ích), Tướng Westmoreland nói rằng nếu Tổng Thống Johnson không nghe quá nhiều lời cố vấn sai lầm và không bỏ qua kế hoạch của ông là từng bước ném bom Bắc Việt và mở các cuộc hành quân qua Cam-bốt và Lào, cuộc xung đột có thể đã chấm dứt trong chiến thắng của Hoa Kỳ.

Sau này, Tướng Westmoreland còn nhận định:

“Quân Đội Hoa Kỳ và Quân Đội VNCH không thua trong Cuộc Chiến Việt Nam, nhưng các nhà làm chính sách và các thành viên của Quốc Hội Hoa Kỳ đã bắt buộc chúng tôi phải thua nó”.

Có lẽ đây cũng là quan điểm của đa số các quân nhân QLVNCH. Nhưng các tài liệu được tiết lộ về sau cho chúng ta thấy rằng các nhà làm chính sách ở Washington đã nhận thấy rằng không thể dùng VNCH để ngăn chận sự bành trướng của Trung Cộng xuống Đông Nam Á nên đã thay đổi chiến lược, trao miền Nam cho Cộng Sản rồi dùng CHXHCNVN để làm việc này. Những diễn mới được chúng tôi trình bày trong bài “Làm ăn với “cựu thù” cho thấy rõ hướng đi mà Hoa Kỳ dự tính khi còn chiến tranh đang được thực hiện.

Tướng Stanley McChrystal khi được cử làm Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Afghanistan thay thế Tướng David McKiernan vào tháng 6 năm 2009, đã xin thêm 45.000 quân và đòi thay đổi chiến lược để có thể chiến thắng ở Afghanistan, nhưng Tổng Thống Obama chỉ cấp thêm 30.000 quân và nói rõ quân đội Mỹ sẽ rút khỏi Afghanistan sau 18 tháng.

Tướng McChrystal ít hiểu biết về chính trị, có tầm nhìn giới hạn, không nắm vững chính sách quốc gia, và có thể đã cho rằng Tổng Thống Obama và bộ tham mưu của ông ta chẳng hiểu gì về chiến cuộc ở Afghanistan nên cảm thấy bất mãn và đã để cho các thuộc cấp của ông tiết lộ sự bất mãn này với ký giả Hastings của tờ báo lá cải Rolling Stone. Số báo của tờ này phát hành đầu tháng 7 đã nói lên sự nghi ngờ về chiến lược và chiến thuật của Washington và sự khinh thường các cấp lãnh đạo. Tổng Thống Obama đã cất chức Tướng McChrystal với lý do:

“Phương cách được trình bày trong bài viết hiện được phổ biến không phù hợp với tiêu chuẩn mà một tướng chỉ huy phải có” (The conduct represented in the recently published article does not meet the standard that should be set by a commanding general).

HƯỚNG ĐI CỦA CHÍNH QUYỀN OBAMA

Hôm 2.12.2009, Tổng Thống Obama đã đưa ra sách lược mới về Afghanistan, trong đó có hai điểm chính:

- Gởi thêm đến Afghanistan 30.000 quân chiến đấu trong năm 2010, với hai nhiệm vụ chính: (1) Bảo đảm an ninh cho các trung tâm dân cư chính yếu, làm cho Taliban không còn năng lực lật đổ chính phủ. (2) Củng cố khả năng của các lực lượng an ninh và chính phủ Afghanistan, để họ có thể lãnh trách nhiệm cho tương lai của Afghanistan.

- Rút quân trong vòng 18 tháng: Xúc tiến bàn giao trách nhiệm cho các lực lượng Afghanistan, và rút ra khỏi Afghanistan vào tháng 7 năm 2011.

Nhìn vào sách lược này, các nhà phân tích thấy các nhà lãnh đạo ở Washington đang nhìn nhận rằng không thể chiến thắng ở Afghanistan với chiến lược hiện tại. Vậy cần phải rút lui và thay bằng một chiến lược mới. Nhưng Tướng McChrystal không hiểu điều đó.

Afghanistan có diện tích 647.500 cây số vuông, tức rộng gấp đôi nước Việt Nam, với nhiều rừng núi, sa mạc và hang động rất hiểm trở, khí hậu lại rất khắc nghiệt. Dân số Afghanistan hiện nay chỉ khoảng 27.800.000 người nhưng được chia ra nhiều bộ tộc sống rải rác trên khắp đất nước nên rất khó kiểm soát.

Một bảng đánh giá lực lượng Taliban của tình báo Mỹ tiết lộ hôm 15.10.2009 cho thấy con số chiến binh của Taliban là 25.000 người và đang gia tăng nhanh. Nhưng tài liệu khác nói lực lượng này có đến 45.000 người. Taliban tuyển một cả những vị thành niên ở vùng biên giới Pakistan.

Trong suốt thời kỳ dài của cuộc chiến, lực lượng Taliban đã dùng vùng đồi núi giáp ranh giữa Afghanistan và Pakistan làm “khu an toàn” của họ và từ đó mở các cuộc tấn công. Bảy khu bộ tộc tự trị dọc biên giới Tây Bắc của Pakistan cũng được coi là “thiên đường” cho al-Qaeda. Đến năm 2009, lực lượng Taliban đã nắm quyền kiểm soát cả vùng thung lũng Swat của Pakistan sát biên giới. Chính phủ Pakistan đã ký một thoả ước hoà bình với quân Taliban tại Swat hồi tháng 2/2009, cho phép áp dụng luật Sharia tại khu vực này.

Trước khi rút lui khỏi miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ đã chỉ đạo QLVNCH mở các cuộc hành quân qua Cambodia rồi Lào để làm tiêu hao lực lượng của Cộng quân, đồng thời “Việt Nam Hoá chiến tranh” bằng cách xây dựng và trang bị cho VNCH có một quân đội khá hùng mạnh, để khi Mỹ rút đi, ít nhất là từ một đến hai năm Cộng quân mới có thể phục hồi lại và đánh chiếm miền Nam Việt Nam. Khoảng cách từ một đến hai năm đó được Kissinger gọi là “một khoảng cách vừa phải” hay “một khoảng cách coi được” (decent interval).

Nay muốn rút khỏi Afghanistan, Hoa Kỳ cũng muốn áp dụng một phương thức gióng như đã áp dụng ở miền Nam Việt Nam, nhưng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Hoa Kỳ đã tăng số quân lên gần 100.000 để cùng với khoảng 45.000 quân Đồng Minh để làm tiêu hao lực lược Taliban, nhưng thực tế cho thấy không thành công.

Để “Afghanistan hoá chiến tranh”, Hoa Kỳ quyết định huấn huyện và trang bị cho khoảng 134.000 quân nhân và cảnh sát bản địa để có thể tự bảo vệ lấy.

Nhưng Hoa Kỳ không thể mở cuộc hành quân vào thung lũng Swat trên đất Pakistan để phá khu an toàn của Taliban và cũng không thể dùng quân bản địa để làm công việc này. Vì thế, Hoa Kỳ phải làm áp lực với chính phủ Pakistan, buộc chính phủ này phải mở cuộc hành quân “lùng và diệt” Taliban trên lãnh thổ Pakistan.

Đây là một công việc rất khó khăn cho Pakistan vì ba lý do chính sau đây: Lý do thứ nhất là quân đội Pakistan không đủ khả năng làm công việc đó. Lý do thứ hai là Taliban đã doạ nếu quân đội Pakistan hành quân vào thung lũng Swat, họ sẽ biến Pakistan thành biển máu. Lý do thứ ba là chính quyền Pakistan muốn giữ quan hệ tốt với Taliban để khi Mỹ rút, họ vẫn có thể tiếp tục chi phối Taliban như trước chiến tranh.

Tuy nhiên, vì áp lực của Mỹ, Thủ tướng Pakistan Yusuf Raza Gilani đã phải dùng khoảng 28.000 quân mở cuộc hành quân vào khu an toàn của Taliban. Kết quả rất bi thảm, Pakistan đã bị biến thành vũng máu. Nay Pakistan đã phải thỏa hiệp trở lại với Taliban.

Như vậy kế hoạch làm tiêu hao lực lượng địch cũng như kế hoạch “Afghanistan hoá chiến tranh” đã không thành công.

TÌM MỘT LỐI THOÁT

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, sau khi ký Hiệp Định Paris, đã ôm chặt hai lá thư hứa hẹn của Tổng Thống Nixon sẽ bảo vệ VNCH, tin chắc Mỹ sẽ không bỏ Việt Nam, ra lệnh cho tay chân bộ hạ sửa hiến pháp để ông có thể cầm quyền thêm một nhiệm kỳ nữa. Trong khi đó, Quốc Hội Mỹ đã ban hành hai đạo luật liên tiếp vô hiệu hóa lời cam kết của Tổng Thống Nixon, nhưng ông Thiệu không nhận ra!

Chẳng những không tìm một giải pháp cho miền Nam, Tổng Thống Thiệu còn đưa ra chủ trương “Bốn Không” để khóa chặt mọi cánh cửa. Khi Mỹ giảm bớt viện trợ, ông chơi trò tháu cáy làm miền Nam mất một cách nhanh chóng. Tổng Thống Karzai và cả Hoa Kỳ đã tìm một lối thoát khác.

Tổng Thống Karzai sinh năm 1957, tốt nghiệp bằng cao học Khoa Học về Quan Hệ Quốc Tế và Chính Trị ở Ấn Độ năm 1983, đã tham gia vào các phong trào kháng chiến chống Nga và giữ nhiều chức vụ khác nhau trong chính quyền nên có nhiều kinh nghiệm hơn, có tầm nhìn rộng hơn và xa hơn. Nhìn thấy Mỹ sắp bỏ Afghanistan, ông đang đi tìm một hướng đi khác để tồn tại.

Trong cuộc họp báo hôm 3.11.2009, Tổng thống Hamid Karzai tuyên bố chính phủ của ông sẽ nỗ lực đoàn kết đất nước và loại bỏ tham nhũng. Ông đề nghị đàm phán với Taliban và kêu gọi "những người anh em Taliban" ngừng các hoạt động chống đối, tham gia tiến trình hòa bình nhằm ổn định tình hình đất nước. Nhưng đại diện của Taliban nói rằng họ chỉ nói chuyện về một giải pháp cho Afghanistan sau khi quân đội ngoại nhập rút khỏi Afghanistan.

Thầy nói chuyện với Taliban rất khó, Tổng Thống Karzai đã chơi trò “đu dây” với các nước đàn anh của Taliban.

Theo lời mời của Tổng Thống Karzai, hôm 10.3.2010, Tổng Thống Mahmoud Ahmadinejad của Iran đã tới thăm Afghanistan, ngay trước khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates kết thúc chuyến công du ba ngày ở nước này. Tổng Thống Ahmadinejad tuyên bố:

“Chúng tôi không cho rằng sự hiện diện của các lực lượng quân sự nước ngoài tại Afghanistan là một giải pháp cho hòa bình Afghanistan. Chính sách của chúng tôi là ủng hộ hoàn toàn cho người Afghanistan, cho chính phủ Afghanistan và cho việc tái thiết Afghanistan. Chúng tôi sẽ tiếp tục sự ủng hộ này trong tương lai”.

Bộ trưởng Gates đã tố cáo Iran chơi "trò nước đôi" tại Afghanistan bằng cách một mặt tuyên bố ủng hộ chính phủ Kabul, một mặt đả phá các nỗ lực do Hoa Kỳ lãnh đạo nhằm gia tăng khả năng cho chính phủ Afghanistan và ổn định đất nước. Ông nói Washington muốn Afghanistan quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng, nhưng cũng muốn các nước đó phải thẳng thắn khi giao tiếp với chính phủ Afghanistan.

Tổng Thống Ahmedinejad đã phản pháo lại bằng cách cáo buộc Washington chơi "trò nước đôi" bằng cách tạo ra khủng bố tại Afghanistan rồi lại nói là cần phải chống khủng bố.

Hôm 24.3.2019, Tổng Thống Karzai lại đi thăm Trung Quốc “để tham dự các cuộc thảo luận nhằm tăng cường các mối quan hệ chính trị và kinh tế giữa hai nước”. Ông Tần Cương, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết Trung Quốc cảm thấy rằng một nước Afghanistan hòa bình và ổn định sẽ là một nước láng giềng tốt. Ông nói Trung Quốc nhận thức được những thách đố mà Afghanistan phải đối mặt trong nỗ lực tái thiết hòa bình và sẽ luôn luôn chủ động trợ giúp để mang lại hòa bình cho quốc gia bị chiến tranh tàn phá này. Ông cũng nói Trung Quốc sẽ cố gắng hết sức để cung cấp viện trợ cho Afghanistan.

Đại sứ quán Afghanistan ở Bắc Kinh cho biết trong những năm gần đây Trung Quốc đã cung cấp cho Afghanistan 180 triệu USD viện trợ tái thiết.

PAKISTAN CŨNG TÌM LỐI THOÁT

Trong ba nước có biên giới tiếp giáp với Afghanistan là Pakistan, Trung Quốc và Iran, Pakistan có biên giới quan trọng hơn cả và ảnh hưởng đến Afghanistan nhiều nhất.

Mặc cho sự phản đối của Mỹ, ngày 13.6.2010, Iran và Pakistan đã hoàn tất một thỏa ước về đường ống dẫn khí đốt dài 1.000km để xuất khẩu khí đốt tự nhiên của Iran sang Pakistan kể từ cuối năm 2015. Đường ống này có trị giá 7 tỷ USD. Mỗi ngày Iran sẽ xuất khẩu qua Pakistan 21 triệu m3 khí đốt.

Cũng trong ngày 13, một bản báo cáo từ Đại học Kinh tế London cho biết cơ quan tình báo ISI (Inter-Services Intelligence) của Pakistan đã cung cấp kinh phí, huấn luyện và nơi trú ẩn cho phe Taliban tại Afghanistan với quy mô lớn hơn nhiều so với trước đây người ta tưởng.

Các tư lệnh thực địa của Taliban được người viết báo cáo phỏng vấn đã nói rằng các điệp viên tình báo ISI thậm chí còn tham dự các cuộc Họp Hội Đồng Tối Cao của Taliban.

Matt Waldman một phân tích gia từ Harvard, tác giả của bàn báo cáo cho biết: “Chuyện này đi xa hơn việc hỗ trợ thi thoảng hay có giới hạn. Đây là sự hỗ trợ ở mức độ cao hơn nhiều, do ISI cung cấp.” Ông Waldman đã nói chuyện với 9 tư lệnh thực địa của Taliban tại Afghanistan vào đầu năm nay.

Quân đội Pakistan bác bỏ các cáo buộc này. Ông Abdul Salam Zaeef, cựu Đại sứ của Taliban tại Pakistan, nói không có bằng chứng gì cho thấy mối liên hệ giữa ISI và Taliban tại Afghanistan.

Tổng Thống Karzai thuộc bộ tộc Pashtun, một bộ tộc mạnh nhất với khoảng 15 triệu dân. Trên đất Pakistan hiện này có thể có khoảng 6 triệu người thuộc bộ tộc này. Những thành phần chính của lực lượng Taliban đều thuộc bộ tộc Pashtun. Với những sự liên hệ như vậy, nhất là vì có một vùng tiếp cận biên giới rất rộng, trong tiến trình lịch sử, gần như lúc nào Pakistan cũng nắm quyền chi phối Afganistan, kể cả sau hai cuộc chiến lớn nhất giữa Afghanistan với Anh và Liên Sô. Pakistan tin rằng sau cuộc chiến giữa Taliban với Mỹ, rồi Pakistan cũng sẽ phải nắm vai trò then chốt tại Afghanistan. Do đó, mặc dầu bên ngoài Pakistan bị bắt buộc phải hợp tác với Mỹ để chống lại Taliban, nhưng bên trong Pakistan không thể bỏ Taliban. Mỹ cũng đã nhận thấy để Pakistan ảnh hưởng đến Afghanistan sau khi Mỹ rút, sẽ có lợi cho Mỹ hơn.

LỊCH SỬ SẼ TÁI DIỄN?

Chúng ta nhớ lại, tháng 4 năm 1988, Nga phải ký hiệp ước với Hoa Kỳ, Pakistan và Afghanistan chấm dứt chiến tranh, quân Nga rút khỏi Afghanistan năm 1989. Nhưng đến tháng 4 năm 1994 Tổng Thống cộng sản Najibullah bị lật đổ, phe kháng chiến Afghanistan vào thủ đô Kabul và tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa Hồi Giáo. Rabbabi trở thành Tổng Thống. Nhưng cuộc nội chiến bắt đầu. Có khoảng 3 triệu người chạy qua Pakistan lánh nạn. Năm 1995 phe Hồi Giáo Taliban chiếm được hầu hết lãnh thổ Afghanistan. Ngày 27.9.1996 Tổng Thống Rabbabi chạy về phí Bắc cùng với các binh sĩ của ông tiếp tục chiến đấu. Phe Taliban vào trụ sở quốc tế ở Kabul bắt anh em cựu Tổng Thống Najibullah đem treo cổ giữa chợ, sau đó áp dụng một chế độ theo luật Hồi Giáo rất nghiêm khắc dưới sự lãnh đạo của Giáo chủ Mullah Mohammad Omar, thường được gọi là Emir al-Momineen.

Liệu Pakistan, Trung Quốc và Iran có thể đứng ra làm trung gian để hòa giải các lực lượng đối nghịch ở Afghanistan sau khi Mỹ rút không?

Trung Quốc muốn khai thác các mỏ khoáng sản ở Afghanistan, nhất là mỏ đồng và mỏ sắt. Nhưng với Trung Quốc, dù lực lượng nào làm chủ ở Afghaniatan, Trung Quốc vẫn có thể thủ lợi.

Vấn đề đặt ra là chính quyền của Karzai phải đủ mạnh để có thể nói chuyện với lực lượng Taliban không. Nếu chính quyền Karzai suy yếu, tình trạng bi thảm nói trên có thể tái diễn sau khi Mỹ rút.

Ngày 29.6.2010
Lữ Giang

Nữ Điệp Viên Nga Bị Bắt Y Hệt Như Phim James Bond

Anna Chapman, “nhan sắc tử thần”

WASHINGTON -- Chuyện xảy ra y hệt như một phim gián điệp kiểu James Bond: một phụ nữ tuyệt sắc, triệu phú, giao du với giới thượng lưu Hoa Kỳ... đã bị FBI bắt, đưa ra tòa để truy tố về tội gián điệp cho Nga.

Ngay cả các tiểu thuyết gia và đạo diễn cũng kinh ngạc về mức độ giống như phim này.

Cô Anna Chapman đã được truyền thông Mỹ gọi là “nhan sắc tử thần,” sau khi cô bị bắt và 90 tấm ảnh của cô trên trang Facebook xuất hiện cho thấy cô xuất hiện nhiều nơi trên thế giới, chung quanh là giới thượng lưu của nhiều giới xã hội Nga, Anh và Mỹ.

Cô Chapman là trong nhóm 11 gián điệp Nga bị FBI bắt tuần này. Tờ New York Times viết rằng 10 người bị bắt hôm chủ nhật ở New York, Virginia và Massachusetts, và người thứ 11 bị bắt hôm Thứ Ba tại Cyprus.

Họ bị cáo buộc là làm việc cho SVR, Sở Tình Báo Hải Ngoại Nga, hậu thân của KGB.

Cô Chapman được truyền thông chú ý nhất, vì là nhân vật xuất hiện y hệt như các nữ điệp viên trong phim James Bond. Đẹp, triệu phú, học cao.

Cô Chapman, 28 tuổi, có bằng cao học kinh tế. Cô làm chủ một công ty địa ốc trên mạng, sống trong một căn chung cư ngay ở khu thương mại Manhattan.

Cơ sở kinh doanh đó của cô có tên Property Finder Ltd., liệt kê các căn địa ốc rao bán ở Moscow, Tây Ban Nha, Bulgaria và một số nước khác.

Trước tòa Mỹ, luật sư của cô Chapman nói, trị giá công ty này là 2 triệu Mỹ Kim.

Báo New york Times nói rằng các điệp viên Nga này trông như người đời thường. Thí dụ như cặp vợ chồng Richard và Cynthia Murphy, được người hàng xóm là Corine Jones, 53 tuổi, nói là họ đã nói chuyện với nhau về làm vườn, về chó, về trẻ em...

Nhưng công tố nói rằng vụ bắt ổ gián điệp này là kết quả của cuộc điều tra tới 7 năm của FBI. Cac1 nghi can này đã sử dụng mọi thứ, từ mực hóa học, cho tới sóng ngắn truyền tin, cho tới mạng không dây hiện đại, và cả hình ảnh giấu chữ phóng lên Internet... để chuyển tin.

FBI đã gài một thám tử giả làm một cán bộ người Nga, vờ như tới để hướng dẫn cho cô cách chuyển một giấy thông hành giả cho một nữ điệp viên Nga khác.

Khi hình ảnh tuyệt sắc của cô Chapman phóng khắp nơi, công tố liên bang Michael Farbiarz nói rằng thực ra cô là “một điệp viên được huấn luyện thượng thặng,” và là một “người lừa gạt xuất sắc” trong buổi thụ lý hồ sơ hôm Thứ Hai.

Cô Chapman hiện bị giam không cho tại ngoại.

Ngân hàng Anh Quốc Barclays Bank xác nhận rằng nữ điệp viên Nga Anna Chapman đã từng làm việc trong trụ sở London của ngân hàng này trước khi sang Mỹ ở.

Trước đó, Barclays chối là không biết gì về Chapman, người bị FBI tố cáo là cùng 10 người khác là điệp viên do Nga cài cắm từ thập niên 1990.

Nhưng rồi phát ngôn nhân Ngân Hàng Barclays xác nhận với báo The Guardian rằng cô Chapman có làm ở phòng phụ trách hồ sơ tiểu kinh doanh từ năm 2004 và 2005.

Trên trang tiểu sử ở LinkedIn, cô Chapman tự nói rằng cô làm ở phòng đầu tư tài chánh.

Có lẽ dị biệt đó đã làm Barclays lúc đầu nói là không biết cô là ai.

Trước đó nữa, cô làm việc cho một công ty ở Anh -- NetJets Europe, một hãng tư cho thuê phi cơ. Nhưng không làm lâu, và cũng không ở cấp cao.

Phát ngôn nhân hãng này nói, “Cô Chapman làm ở NetJets Europe từ tháng 5 tới tháng 7-2004, chức phụ tá điều hành trong phòng thương vụ.”

Nhưng tiểu sử tự viết của cô nói là cô làm 1 năm ở NetJets và “chủ yếu liên hệ về việc bán các phản lực cơ tư cho các công ty và cá nhân tại Nga.”

Bản tiểu sử tự viết của Chapman cũng nói là cô làm cho một quỹ đầu tư mạo hiểm (hedge fund) tại London có tên là Navigator. Nhưng theo trang web FINalternatives, không có chứng cớ nào cho thấy có quỹ đầu tư đó.

Trong nhóm 10 người bị bắt có Tracey Lee Ann Foley, người có một giấy thông hành Anh Quốc giả mạo.

Lý do FBI bắt khẩn cấp nhóm điệp viên này, vì có dấu hiệu cho thấy Chapman biểu lộ nghi ngờ đã bị theo dõi, và cô sửa soạn đaò thoát ra khỏi Hoa Kỳ để về Nga, theo hồ sơ tòa.

Luật sư của cô nói, cô Chapman đã qua lại, vào ra Mỹ kể từ năm 2005, trước khi ở lại Manhattan để mở một cơ sở kinh doanh.

Trong hơn 90 tấm ảnh cô để trên trang Facebook, cô có mặt ở nhiều quốc gia, kể cả ở Thổ Nhĩ Kỳ, nơi cô ở trong một các phòng của khách sạn sang trọng Les Ottomans tại Istanbul.

Còn có một tấm ảnh cô cầm ly rượu vang với hai người đàn ông trong hội nghị kỹ thuật Global Technology Symposium ở đaị học Stanford hồi tháng 3-2010, nơi phải mua vé vào dự tới hơn 1,000 đô la.

Công tố Farbiarz nói các điệp viên này bị bắt chỉ là một phần nổi của tảng băng chìm, từ mạng lưới gián điệp do SVR cài cắm vào Mỹ.

Bề ngoài, cô nói những điều tốt đẹp cho Hoa Kỳ. Cô Chapman nói trên một băng hình ở Facebook, “Với tôi, Mỹ là một đất nước tự do, và là nơi dễ nhất thế giới để gặp những người thành công nhất. Tại Moscow, bạn có thể gặp những doanh nhân quan trọng nếu bạn là một doanh nhân quan trọng. Tại New York, mọi sự khác hẳn. Bạn có thể đi ăn tối với người hàng xóm, và gặp nhà đầu tư tài chánh quan trọng nhất. Nếu bạn có điều gì cần nói và trình bày với thế giới, người ta sẽ lắng nghe bạn.”

Câu chuyện của cô Chapman khởi sự từ thành phố trước kia là Stalingrad của Liên Sô, nơi cô chào đời trong một gia đình có thế lực.

Cha cô làm trong tòa đại sứ Nga ở Kenya, khi cô còn bé, và do vậy cô đã du hành thế giới từ bé.

Cô được gửi học nội trú ở một trường thượng lưu ở Stalingrad, nơi cô “nổi bật,” theo lời một bạn của cô hiện sống ở Israel. Cô khi học lớp 8 có nhận làm một dự án, chủ đề tưởng nhớ sự thống nhất Sô viết, và được giaỉ nhất.

Xong trung học, cô tốt nghiệp Đaị Học Hữu Nghị Các Sắc Dân tại Moscow, với bằng cao học kinh tế.

Rồi cô sang London, làm việc và cưới một người Anh giàu có, con trai của một giám đốc về bán lẻ. Nhưng tình duyên này sớm đứt.

Một người hàng xóm ở Manhattan nói, người ta thường gặp cô với túi xách mua hàng hiệu nổi tiếng, kiểu như Prada hay Gucci.

Cô cũng thường ngồi ở tiệm sách Barnes & Noble, và thường uống cà phê ở Starbucks -- hai điạ điểm mà FBI nói là nơi họ bắt gặp cô vào liên lạc vô tuyến với các cán bộ sứ quán Nga.

Luật sư của cô là Robert Baum, nói cô chẳng phải gián điệp gì cả.

Và mẹ cô, hiện sống ở phía tây Moscow, bà Irina Kushchenko, nói với AP rằng: “Dĩ nhiên, tôi tin rằng con tôi vô tội.”

FBI nói đã ghi laị được cô dùng máy laptop trao đổi vô tuyến 10 lần, luôn luôn là các ngày Thứ Tư, cho tới tháng 6-2010, khi một thám tử FBI giả làm nhân viên sứ quán Nga, mang một dây thu âm, tìm gặp cô Chapman ở 1 tiệm cà phê Manhattan.

Lúc đầu họ nói bằng tiếng Nga, rồi đổi sang tiếng Anh cho chung quanh khỏi nghi ngờ.

Cô nói:

“Tôi cần thêm thông tin về anh trước khi tôi có thể nói.”

“OK, tên tôi là Roman... tôi làm ở sứ quán.”

Thám tử nói, anh biết cô sắp về Moscow trong 2 tuần nữa “để nói chính thức về việc làm của cô,” nhưng trước khi đó, “tôi có một việc nhỏ cho cô làm ngày mai.”

Việc đó là: trao một thông hành giả cho một nữ điệp viên khác.

Thám tử hỏi: “Cô có sẵn sàng làm thế chưa?”

Cô đáp: “... Dĩ nhiên.”

Thám tử mới cho cô biết 1 địa điểm, và nói cô cầm một tạp chí ở một kiểu để nhận diện -- kiểu đó, cô sẽ được nhận ra bởi 1 gián điệp Nga, người này lúc đó sẽ tới nói mật khẩu, “Xin lỗi, có phải chúng ta đã gặp ở California mùa hè vừa qua?”

Nhưng rồi Chapman lộ ngờ vực, theo lời công tố.

“Bạn có chắc là không ai do thám chúng ta?” công tố kể là cô nói với thám tử kia như thế, sau khi được chỉ dẫn việc kia.

Sau đó, công tố nói, cô lo ngại, nên mua 1 điện thoại di động và “gọi hàng loạt” về Nga.

Một trong các cú gọi mà FBI nghe lén làn sóng được, 1 người đàn ông chỉ thị cô là cô có thể đã bị lộ, và nên nộp thông hành kia cho cảnh sát Mỹ và hãy ra khỏi Mỹ ngay.

Khi cô tới Ty cảnh sát New York sau khi nghe lời khuyên naỳ, cô bị bắt ở đây.

Chủ tịch FIFA Joseph S. Blatter phản ứng về những lỗi lầm của trọng tài


Nguồn: Tuần báo Đức "Welt am Sonntag", 04.07.2010
Phụ đề Việt Ngữ: TinHamburg

Đừng khóc lóc nữa Maradona...


Bản dịch tiếng Việt lời hát:

Đừng khóc lóc nữa Argentina!
Sự thật là
bàn chân của thượng đế đã thắng các bạn
và điều rõ ràng:
vô địch mới của thế giới sẽ là Đức!

Đừng khóc lóc nữa Maradona!
Sự thật thì rất đau lòng
Nhưng thực ra, cuộc sống vẫn tiếp tục
Lần tới các bạn sẽ đứng thứ nhì sau chúng tôi!

Đừng khóc lóc nữa Argentina!
Chân lý nằm trên sân cỏ
Và các bạn đã gặm cỏ
Chúc ăn ngon!

Gửi lời chào đến những nhóm khác
Đang ở nơi những kẻ thua cuộc.

Dịch: TinHamburg


.........................................
Bản tiếng Đức:


Heul doch nicht Argentinien!
Die Wahrheit: der Fuß Gottes hat euch besiegt
Eins ist doch klar: der neue Weltmeister Deutschland heiß da!

Heul doch nicht Maradona!
Die Wahrheit ist zwar brutal
Aber mal ehrlich, das Leben geht weiter
Nächstes Mal werdet ihr nach uns Zweiter.

Heul doch nicht Argentinien!
Die Wahrheit ist auf dem Platz
Ihr habt Gras gefressen
Guten Appetit!
Und grüßt uns die anderen
wo Verlierer landen.